Thứ Tư, 30 tháng 6, 2021

Khám phá nét "độc" của Tình yêu


Nét "độc" ở đây cũng là nét "khủng", nét "bom tấn" như ngôn ngữ thường dùng bây giờ.
Mời đọc sách Cựu ước : Malachi 1,1-5. 
I. Cách diễn đạt ngôn từ :
Tại sao dân Israel nghĩ rằng Chúa không yêu họ ? Bằng cách nào Chúa chứng tỏ tình yêu của Ngài đối với họ ? Tình yêu đó có đặc điểm gì ?
Khi đối diện với nghịch cảnh, thật khó để tin rằng Thiên Chúa ( TC ) yêu thương chúng ta. Các việc xảy ra chung quanh dường như làm chứng nghịch lại với niềm tin ấy. Tuy nhiên, đó chính là sự thật mà Malachi đã ghi lại, TC vẫn yêu thương dân Israel cũng như Ngài thương yêu chúng ta cho dù cuộc sống chúng ta có ra thế nào.
Tình yêu của TC là sứ điệp trung tâm của Thánh Kinh. Cho nên Tiên tri Malachi bắt đầu cuốn sách của ông với lời khẳng định quả quyết "TC phán : Ta yêu các ngươi". Dân Israel lúc bấy giờ trở thành dân bội bạc, nên họ mới cãi lẽ : "Chúa yêu chúng tôi ở đâu ?"( Ml 1,2 ) hoặc "Tình yêu Chúa ở đâu mà chúng tôi không thấy ?". Họ đã đánh mất lòng tin, lòng yêu mến TC và nghĩ rằng TC sẽ không còn yêu thương họ. Nhưng Chúa phán : "Ta yêu các ngươi". Chúa phán "Ta yêu các ngươi" tức là Ngài đã yêu dân Israel trong quá khứ, nhưng vẫn yêu trong hiện tại và còn tiếp tục yêu ở tương lai, hay nói cách khác: "Ta yêu các con và vẫn còn tiếp tục yêu các con".
Trong Cựu ước, động từ "yêu" được dùng rất nhiều lần để xác chứng tình yêu của TC đối với con người. Tình yêu bao giờ cũng công bằng, có người không hiểu tới vẫn tưởng như có sự chênh lệch, nhưng không thể dùng bàn cân để cân được. Từ ban đầu Ngài đã yêu dân Israel nên Ngài đã lựa chọn và biệt riêng họ ra để phục vụ Ngài. Qua các tộc trưởng, Chúa ban phát dư dật cho họ, Chúa tiếp trợ dân Israel trong lúc bị thiếu thốn. Ngài giải cứu họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Chúa chu cấp mọi nhu cầu cho họ trong đồng vắng. Ngài đem họ đến xứ đượm sữa và mật ong. Khi họ bị bắt làm phu tù, Ngài yêu thương cứu giúp và đưa họ trở về xứ sở mình...Lịch sử của dân Israel đầy ắp tình thương của TC : Khi họ vâng lời Chúa, Ngài yêu thương ban phước cho họ dư dật; khi họ khước từ Chúa, Ngài yêu thương sửa dạy họ. Tất cả cũng chỉ là yêu thương.
Và tại đây, trong phần đầu của sách Malachi, TC chứng tỏ tình yêu đó qua đời sống của Ê-sau và Gia-cốp. Ngài phán : "Ê-sau há chẳng phải là anh của Gia-cốp sao ? Nhưng Ta yêu Gia-cốp mà ghét Ê-sau"( Ml 1,2-3 ). Khi TC nói Ngài ghét Ê-sau và yêu Gia-cốp, thì chữ "ghét" được dùng theo ý nghĩa đối chiếu với "yêu". TC yêu Gia-cốp và ghét Ê-sau có nghĩa là Ngài yêu Gia-cốp nhiều hơn yêu Ê-sau, chứ không phải là một sự ghét bỏ hoàn toàn. Đó là nét độc đáo tình yêu của TC. Ghét không có nghĩa là không yêu.
Trong Tân ước, Chúa GS cũng dùng chữ ghét và yêu bằng lối so sánh đối chiếu này. Chúa nói trong Luca 14,26 : "Nếu có ai đến theo Ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình... thì không được làm Môn đệ Ta". Chữ "ghét" ở đây có nghĩa là "Ai yêu cha mẹ hơn Ta, thì không đáng cho Ta; ai yêu con trai hay con gái hơn Ta, thì cũng không đáng cho Ta"( Mt 10,37 ). Cũng là Lời Chúa, cũng là Kinh Thánh cả đó mà ! Như thế đây là cách diễn đạt ngôn từ, chứ không phải ngôn tình. Câu trong Tin Mừng Luca gây một sự hiểu lầm rất lớn, nhất là dân ngoại nếu đọc câu đó là họ không thể chấp nhận được vì họ cho rằng con người ta như thế là bất hiếu, bất trung với cha mẹ và những người thân trong gia đình. Ngay chúng ta thôi, có người vẫn còn ấu trĩ, khi người vợ qua đời gắn lên bia mộ cả hình của mình nữa, chứng tỏ tình yêu và sự chung thủy với vợ ( Ra nghĩa trang tôi thấy có trường hợp như vậy ) - Điều này có phải là họ yêu nhau hơn cả Đấng cứu mình không ?.
TC là Đấng vô thủy vô chung, nhưng đồng thời Ngài cũng là Đấng vô thưởng vô phạt. Ngài có cả thế giới, cả vũ trụ, Ngài chẳng thiếu gì, Ngài chẳng cần ai thưởng Ngài gì cả, mà chẳng ai phạt được Chúa điều gì. TC không bị ép buộc phải yêu Gia-cốp, Ê-sau hoặc bất cứ một người nào trên mặt đất này. Chúng ta không có gì xứng đáng để được yêu, nhưng Ngài chọn yêu chúng ta.
Phân đoạn Kinh Thánh trên đây dạy cho chúng ta ít nhất hai lẽ thật :
        1.Tình yêu Chúa dành cho chúng ta là tình yêu vô điều kiện : Thật vậy, sách Luật lệ viết : "TC trìu mến và chọn lấy các ngươi, chẳng phải vì các ngươi đông hơn mọi dân tộc khác đâu; thật số các ngươi là ít hơn những dân khác. Nhưng ấy vì TC yêu thương các ngươi..."( Ll 7,7-8 ).
        2.TC yêu chúng ta bằng tình yêu mật thiết cá nhân, ngược lại, chúng ta phải yêu TC trên hết mọi sự : Môi-sê giảng giải : "Tất cả vũ trụ trời đất đều thuộc về Chúa Hằng Hữu, thế mà Ngài đem lòng yêu thương tổ tiên đồng bào, và nhân đấy, chọn đồng bào trong muôn dân, như mọi người thấy ngày nay"( Ll 10,14-15 ).

II. Nét đẹp trên cả tuyệt vời :
Một nét độc đáo nữa trong tình yêu TC : Điều đặc biệt là sự bất di bất dịch, sự không thay đổi, bởi tình yêu là bản chất của TC. Ngài là Đấng tự hữu và hằng có từ thuở đời đời, thì tình yêu Ngài cũng chẳng bao giờ suy suyễn. TC không hề lìa bỏ kẻ thuộc về Ngài ( Jn 6,37 v 39 ). Dù chúng ta sống bội bạc với Ngài, nhưng tình yêu Ngài dành cho chúng ta không hề thay đổi. Tình yêu TC là tình yêu đời đời, không cùng, chẳng hề dứt và không hề tàn.
Tình yêu TC là tình yêu lâu đời, lâu hơn ngôi sao cổ nhất. Tình yêu TC là tình yêu dài nhất, dài hơn cõi vĩnh cửu. Tình yêu TC là tình yêu sâu thẳm, sâu hơn đáy vực. Tình yêu TC là tình yêu cao nhất, cao hơn thượng giới. Tình yêu TC là tình yêu rộng nhất, rộng hơn biển cả và đại dương. Tình yêu TC là tình yêu gần nhất, gần hơn bàn tay và bàn chân con người. Tình yêu TC là tình yêu sẵn có bất cứ giờ phút nào, sẵn có còn hơn chúng ta sẵn có không khí để thở.
Tình yêu TC là tình yêu không hề thay đổi. Dù chúng ta là người thế nào, Ngài vẫn yêu chúng ta. Dù chúng ta đáp lại tình yêu Ngài cách lơ là, thiếu mẫn cảm, Ngài vẫn yêu chúng ta và chờ đợi chúng ta đến với Ngài và yêu mến Ngài. Chúa luôn êm dịu khuyên mời "Hỡi những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng"( Mt 11,28 ).
Nét đẹp trên cả tuyệt vời này được thể hiện bằng chính máu Chúa  Giêsu đổ ra trên Thập tự giá : "Khi nào Ta bị treo lên khỏi mặt đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta"( Jn 12,32 ). Chúa báo trước Ngài sẽ tự hiến thân trên Thập tự giá để cứu chuộc nhân loại. Nơi Thập giá tình yêu ấy tỏ lộ rõ rệt : Chúa tha thứ cho những kẻ giết Ngài, cho người trộm lành vào thẳng Nước Trời, trối Mẹ Ngài lại cho chúng ta và ban Thần Khí khi Ngài trút hơi thở cuối cùng ( Jn 19,30b ). Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập tự giá là đỉnh cao tình yêu, là ngôn ngữ mạnh mẽ nhất nói lên tình yêu của TC đối với toàn thể nhân loại.
Ta khá quen thuộc khi đọc Tin Mừng Gioan, Thánh Sử ghi lại lời của Chúa Giêsu : "Thầy ban cho anh em một điều răn mới: Anh em hãy yêu thương nhau. Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em. Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là Môn đệ của Thầy là anh em hãy yêu thương nhau"( Jn 13,34-35 ). Tình yêu mặc dầu không thay đổi nhưng nó lại vừa cũ vừa mới. Cũ vì tình yêu có từ thuở lâu đời, từ khi con người mới được tạo dựng. Mới vì có tình yêu con người sẽ vui tươi phấn khởi, không có tình yêu con người sẽ chết ngay, "như trái đất không có ánh sáng mặt trời".
Giữ lấy niềm tin nơi TC chí cao trong một xã hội vô tín - một xã hội mà con người gạt bỏ Ngài sang một bên luôn là một thách thức lớn đối với chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải trả giá bằng sự mất mác hay phải đối đầu với nguy hiểm. Đến với người khác trong hoàn cảnh đau buồn không có nghĩa là chúng ta cất được nỗi đau của họ. Nhưng chúng ta có thể giúp anh em mình thấy sứ điệp hy vọng và phục hồi trong tình yêu của Chúa. Thánh Gioan trong sách Khải Huyền đã an ủi Hội Thánh đầu tiên trong thời kỳ bị bắt bớ với niềm hy vọng khó khăn sẽ qua đi và vinh quang sẽ đến. Vì vậy, khi chúng ta đem niềm an ủi và hy vọng cho những người thất vọng, chúng ta biết chắc rằng chúng ta đang nói về sự thật sẽ đến trong tương lai. Chúng ta tin chắc rằng TC sẽ nâng đỡ, sẽ phục hồi và đem đến ánh sáng cho những đời sống trong tối tăm. Chúng ta thường cảm thấy mình không đủ ơn, đủ khả năng để đến với người khác trong những hoàn cảnh như vậy. Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ rằng TC sẽ thêm sức, giúp chúng ta an ủi người cần ủi an, phục hồi đời sống của họ. Chúng ta có thể tin rằng không một nan đề hoặc một khó khăn nào quá khó đối với TC, Ngài sẽ có cách giải quyết của Ngài để đáp lại sự tin tưởng của chúng ta.
Sự quan tâm chăm sóc của TC đối với người tin Ngài thật lạ lùng, trước sau như một. Không ai hiểu chúng ta bằng Chúa. Chúa thông cảm hoàn cảnh của mỗi người. Ngài yên ủi, nâng đỡ, dẫn dắt chúng ta như lời tác giả Thánh vịnh nói : "TC chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi / Trên đồng cỏ xanh rì, Người cho tôi nằm nghỉ"...Chúa là vầng đá muôn đời cho neo đức tin chúng ta đặt vào để không bị xao xuyến. Chúa là vầng đá yêu thương để tất cả những người đặc niềm tin vào Ngài đều không bao giờ thất vọng. Chúa là vầng trăng, đêm về chiếu sáng, cho tim con mãi mãi khát khao đợi chờ.

III. Tâm tình Cầu nguyện :
Chúa ơi, giữa thế giới bao la này con biết Ngài yêu con. Cảm tạ Chúa vì Ngài không thay đổi, tình yêu của Ngài miên viễn với thời gian.
Chúa ơi, càng nghĩ con càng không hiểu sao Ngài yêu con, một con người xấu xa tội lỗi. Con rất sợ bộ phim cuộc đời con sau này chiếu ra trước mặt Chúa. Xin Ngài bấm xóa bộ phim ấy đi rồi yêu hay không yêu con cũng đươc, vì con cảm thấy con bất xứng. Cảm tạ ân sủng kỳ diệu của Ngài ! Xin giúp con trong từng giây phút đi qua con nói được với Ngài là con yêu Chúa.

                Yêu Ngài tình mãi véo von,
                Lời ca con trẻ vẫn còn ngây thơ
                Hái  trăng  trên  núi  xa  bờ,
                Sông trôi lặng lẽ, thuyền chờ gió ru.

JB.SĨ TRỌNG.

Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2021

Một Phêrô, một Phaolô và chính chúng ta

 ( Mừng Lễ 2 Thánh Phêrô và Phaolo Tông đồ 29/6 )
Đọc Thánh Kinh : Mt 26,57.69-75 v Mc 14,53-54.66-72 v Lc 22,50-51.54-62 v Jn 18,12-18.25-27.

1. Khám phá ý muốn của Chúa :
Người Môn đệ can đảm vung gươm chém Man-chu, gia nhân của thầy tế lễ thượng phẩm ngay trước đám đông kéo đến bắt Chúa, chính là Phêrô. Phêrô lúc ấy vừa tỉnh ngủ thì thấy đèn đuốc sáng rực, và một rừng người với gậy gộc gươm giáo kéo đến vây quanh ( Jn 18,3 v Mt 26,47 v Mc 14,43 v Lc 22,47 ). Có lẽ họ chỉ bao vây Chúa và ba Môn đệ thân tín : Phêrô, Giacôbê và Gioan, vì những người khác ngủ vùi ở một khoảng xa hơn.
Phêrô hành động đúng lúc, đúng chỗ. Chém đúng người nữa ( Jn 18,10 v Mt 26,51 v Mc 14,47 v Lc 22,50 ). Nhưng hoàn toàn sai ý Chúa.
Ý của Chúa là gì ? Bất bạo động, không chống cự - không tự vệ nữa. Vì "ai cầm gươm sẽ chết vì gươm", nếu cần bảo vệ thì Chúa sẽ gọi Thiên Binh xuống rồi. Nhưng quan trọng là mục đích của Chúa lúc này. Mục đích của Chúa là chịu chết để cứu nhân loại. Vì vậy chống cự, tự vệ chỉ làm trì hoãn con đường Thập giá.
Phêrô hoàn toàn không hiểu. Nhưng về sau ông đã thấm lời dạy của Chúa - hành động của Chúa để dạy - đến nỗi trong thư thứ nhất ông viết : "Đừng lấy ác trả ác, cũng đừng lấy rủa sả trả rủa sả, trái lại, phải chúc phúc. Phải hiền hòa và biết đón nhận. Thà làm điều thiện mà chịu khổ, còn hơn làm điều ác mà chịu khổ. Nếu ai vì Chúa chịu khổ thì đừng hổ thẹn. Sau khi anh em tạm chịu khổ, chính Ngài sẽ làm cho anh em trọn vẹn, vững vàng và thêm sức cho".
Chúa Giêsu đã chữa lành cho Man-chu để cứu Phêrô (  Lc 22,51 v Mt 26,51 ), vì nếu không, bọn lính đã bắt Phêrô rồi.
Nhiều khi chúng ta cũng hành động như Phêrô, nghĩa là muốn dùng sức mình, khả năng của mình để bảo vệ Chúa, bênh vực Chúa, tranh đấu cho Chúa. Nhưng tranh đấu dễ bị trâu đánh. Đấu tranh tránh đâu được. Kinh Thánh không dạy tranh đấu trong thời điểm hiện tại. Pascal dạy rằng : "Sống là tranh đấu". Tranh đấu chống lại những cám dỗ của bản thân, tranh đấu để vượt qua những thử thách khó khăn; chứ không phải tranh đấu để được quyền, được lợi hơn người khác. Tranh đấu có khi phải hy sinh cả tính mạng, có khi phải chấp nhận thiệt thòi bản thân, mưu cầu hạnh phúc cho người khác. Chúa Giêsu cũng vậy. Chúa chỉ dạy ta theo gương Chúa mà chịu khổ. Ở đời nhiều người cứ hăng máu theo ý riêng mình rồi chẳng được gì, có khi phải sứt đầu mẻ tráng. Việc gì tìm vinh quang cá nhân sẽ bị Chúa đập tan tành, lịch sử đã chứng minh. Chúng ta nên nhớ điều này để không phạm ý muốn của Chúa và có khi "làm phiền" Chúa nữa.
Hôm nay chúng ta thử nghĩ xem mình có bao giờ chịu khổ, chịu nhịn nhục vì Chúa chưa ?

2. Thói quen chối Chúa :
"Ta không biết người đó, ta không thuộc về bọn đó, ta không hiểu anh nói gì". Nhiều khi ta gọi Phêrô là : Miệng hùm gan sứa, cũng không sai lắm. Trong một đêm, Phêrô đã làm: thề thốt sống chết với Chúa( Mt 26,33.35 v Lc 22,33 ), ra tay bảo vệ Chúa( Lc 22,50 v Jn 18,10 ), chối Chúa trước bọn gia nhân của quan quyền Do Thái ( Mt 26,69-74 v Lc 22,57-60 v Mc 14,66-71 v Jn 18,25-26 ). Thật ra ba việc này người theo Chúa vẫn làm, mặc dù không làm trong cùng một đêm nhưng có thể trong một tháng, một năm, hay một đời người. Nhưng việc thứ tư mà Phêrô làm là đã ăn năn, khóc lóc trong đêm ấy ( Mt 26,75 v Lc 22,62 ). Nhiều người đã không nghĩ đến việc thứ tư này và vẫn "thề thốt" mỗi ngày Chúa nhật hay dịp hội họp nào đó, vẫn muốn bảo vệ danh nghĩa của Chúa khi người ta xúc phạm ( có khi chỉ là bảo vệ cái tôi, bảo vệ tổ chức đoàn thể của mình )- trong thời gian làm Ban Hành giáo tôi đã chứng kiến, nhưng trong nếp sống hằng ngày vẫn chối Chúa một cách tự nhiên ( dối trá, tham lam, lạm quyền, hống hách, kiêu ngạo, nóng nảy, làm điều vô luân, độc ác, căm thù, lẫn tránh, coi thường người khác.v.v...) và không bao giờ khóc lóc hoặc ăn năn hối cải. Tất cả trở thành một thói quen mà không cảm thấy xấu hổ.
Hôm nay chúng ta thử nhớ xem đã bao lần chúng ta suy nghĩ, nói năng, hành động mang tính cách chối Chúa, nghĩa là gián tiếp nói rằng: tôi không biết Chúa, tôi không phải là tín đồ của Chúa, tôi không muốn bàn đến chuyện ấy.
Chúng ta hãy quỳ gối ăn năn tội trước Chúa về các cách chối Chúa này. Biết đâu hôm nay chính là ngày chúng ta giải tỏa được bức tường ngăn cách giữa Chúa và chúng ta, rồi phước lành của Chúa sẽ bắt đầu đổ tràn vào cuộc đời của mỗi người.
Làm sao Chúa có thể chấp nhận những tín hữu không thực sự theo Ngài ?

3. Một Phaolô và hành động cấp thời của Chúa :
Hành động cấp thời của Chúa là làm cho Phaolô bị té ngã, sau đó Chúa dùng Phaolô như một "lợi khí" ( Cv 9,15 ).
Thời đại ngày nay chúng ta có nên bất bạo động không ? Khác với thời điểm Chúa GS chịu nạn. Phaolô đã bị Chúa quật ngã từ trên lưng ngựa xuống, ông choáng váng, nhờ thế mà Phaolô đã trở lại và đã đem toàn bộ cuộc đời mình đi Rao giảng Tin Mừng về Đức Kitô Phục sinh.
Muốn Phục sinh thì phải trải qua Thập giá. Nhưng đã Phục sinh rồi, không ai điên rồ gì phải trải qua Thập giá, cơ hội chỉ có một lần. Đã Phục sinh rồi, không ai đem Thập giá đến biểu người đó nằm lên để chịu đóng đinh mà người đó phải chấp nhận. Nếu Chúa không dùng bạo lực thì Phaolô vẫn tiếp tục bắt bớ và chém giết nhiều tín hữu ( Cv 9,1 ), mặc dầu hành động của Phaolô là để khẳng định chân lý về một TC duy nhất mà ông ta muốn bảo vệ.
Do đó sau Phục sinh, ý muốn của Chúa không còn là bất bạo động nữa. Sứ mệnh của người đi Rao giảng sau này đòi hỏi sự dấn thân và chấp nhận cả bạo lực, cho dù nguy hiểm đến tính mạng. Những Linh mục tôi quen, các Ngài phải gánh chịu cả tù tội, có người phải chết ở trong tù. Thời vua chúa phong kiến biết bao người bị chặt đầu, xử trảm vì tuyên xưng đức tin.
Một Phaolô được hoàn toàn biến đổi nhờ Chúa yêu thương và "chơi bạo" làm cho ông phải mờ mắt, sau đó mới tỉnh dậy ( Cv 9,3-9 ). Từ biến cố này ông thấy được Đức GS thật sự là TC ( Cv 9,20 ), không còn nghi ngờ gì nữa. Đức GS vừa là người thật, vừa là TC thật.
Một Phaolô với thanh gươm lăm lăm trong tay. Nhưng từ biến cố trên đường đi Damas thanh gươm ấy đã trở nên vô dụng, như lời Chúa GS đã phán với Phêrô : "Ai cầm gươm sẽ chết vì gươm". Dĩ nhiên, cả hai ( Phêrô và Phaolô ) đều phải "tra gươm vào vỏ"( Jn 18,11 v Mt 26,52 ). Từ đây Phaolô đi Rao giảng Tin Mừng với tất cả sự nhiệt thành : "Tôi sống nhưng không phải tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi"( Gal 2,20a ). "Vô phúc cho tôi, nếu tôi không Rao giảng Tin Mừng".
Xin cảm tạ Chúa vì những ý muốn Chúa linh hoạt áp dụng. Tùy lúc, tùy thời điểm để mang lại hiệu quả, mang lại hữu ích cho Nước Chúa và cho việc Cứu độ nhân loại. "Ở giữa trần gian, không do trần gian, nhưng Chúa cho trần gian với những phương tiện sẵn có của trần gian để xây dựng Nước TC ngay ở trần gian"( Lời của Đức HY Fx. Nguyễn văn Thuận ).

4. Cầu nguyện :
Lạy Chúa, xin cho con theo bước chân Ngài, khiêm tốn, hiền lành, nhỏ bé, biết chịu đựng đau khổ hơn ở không an nhàn. Xin tha cho con tội liên tiếp chối bỏ Chúa mỗi ngày. Xin cho con ghi nhớ hôm nay như một vạch mốc mới, đánh dấu chuyển đoạn của đời con. Amen !

JB.SĨ TRỌNG.
P/s : Mời đọc thêm bài "Cục đá và cái phao" trên nhãn "Bài suy niệm 7" của Blog này.




Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2021

Thông điệp học Lời Chúa từ một Thi phẩm



Tôi nghĩ rằng : Thánh Vịnh ( TV ) không phải là một áng văn chương cổ xưa, nhưng là một áng văn chương tuyệt vời mang hơi thở thời đại, vừa vị nghệ thuật, vừa vị nhân sinh. Vị nghệ thuật vì TV được một nhà vua viết theo thể loại văn vần rất hay và rất đẹp, với bút pháp không thua gì truyện Kiều của Việt Nam. Vị nhân sinh vì TV cho người ta nhận biết được Thiên Chúa là Đấng Toàn năng và rất mực yêu thương con người, Ngài tạo dựng nên vũ trụ muôn loài và có khả năng giải phóng con người thoát khỏi đau khổ, tội lỗi và sự chết.
Tình cờ lật Kinh Thánh ra đọc và bắt gặp trang đầu của TV. Trong phạm vi bài viết này, đi từ TV thứ nhất : từ câu 1 đến câu 6; một vài suy tư người viết xin chia sẻ, gồm hai phần thiết yếu như sau :

1.Chọn lựa :
TV thứ nhất là một bài thơ ngắn vỏn vẹn chỉ 6 câu, nhưng giàu hình ảnh, rất hay và súc tích. Nếu ai chưa đọc xin mời đọc TV này nhiều lần để nhắc nhở mình học Lời Chúa mỗi ngày. Ba câu cuối của TV1 mô tả hình ảnh một người không thờ Chúa, người ấy như "vỏ trấu"( cũng có sách dịch "như rơm rác" ), dễ bị gió thổi bay, không có giá trị gì. Trong cuộc sống hiện tại, người ấy bị những ngọn gió của đời, tức là những trào lưu sai lạc lôi cuốn vì không có lập trường vững chắc. Đến ngày đoán xét, ngày Chúa Giêsu trở lại để thưởng phạt mọi người, người ấy sẽ không đủ can đảm đứng nghe bản án của mình, vì suốt cả đời người ấy đã sống trong tội lỗi, không tôn thờ Chúa, không kính sợ Chúa. Không những thế, tác giả bài thơ còn cho biết thêm rằng, người tội lỗi sẽ không được "hợp đoàn với chính nhân". Đây chỉ về thiên đàng, nơi dành riêng cho những người đã được Chúa tha tội và kể là người công chính. Câu 6 mô tả kết cuộc đau thương của một người không tôn thờ Chúa:"đường kẻ ác đưa tới chỗ diệt vong".
TC thấy rõ mọi sự và biết rõ mọi người. Đối với những người kính yêu Chúa, vâng giữ Lời Ngài dạy, Chúa hứa rằng : "Người như thế làm chi cũng sẽ thành". Nhưng đối với những người gian ác, tội lỗi và kiêu ngạo, Chúa cảnh cáo : Họ sẽ bị diệt vong. Chúa cho chúng ta được tự do quyết định lối đi cho cuộc đời mình : Tôn kính Chúa và vâng giữ Lời Chúa dạy, hoặc chống đối Chúa, xem thường Lời Thánh Kinh. Khi đã chọn một trong hai con đường ấy rồi, chúng ta phải nhận phần kết cuộc. Chắc chắn chúng ta biết lựa chọn điều gì là tốt, chúng ta cần lắng nghe chính mình để cho bản thân ta được là chính mình.

2. Bí quyết được phước lành :
TV thứ nhất cũng như cả sách TV, mở đầu bằng chữ "phước". Nói một cách dễ hiểu : Phước là những điều làm cho ta sung sướng, thỏa mãn, hoặc đem lại may mắn, thịnh vượng. Vì thế "phước" là điều mọi người đều mong ước, tuy nhiên không phải tất cả đều có. Câu mở đầu của TV1 cho thấy rằng người có phước là người "chẳng nghe theo lời của kẻ dữ, chẳng bước vào đường quân tội lỗi , không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng"- Mở đầu một tác phẩm mà tác giả đã viết vậy, chứng tỏ quan điểm và lập trường của tác giả - người cầm bút, là như thế nào rồi.
"Kẻ dữ" là người không kính thờ Chúa và có hành vi gây hại người khác. "Tội nhân" là người chống lại Ngài và "kẻ ngạo mạn kiêu căng" là những người xem thường, xem khinh cả Chúa lẫn anh em đồng loại. Dựa vào câu Kinh Thánh trên, chúng ta thấy rằng, để được kể là người có phước trên đời, ta hãy tránh xa ba hạng người đó, đừng bắt chước họ, đừng đi theo đường lối họ và cũng đừng nghe lời họ. Tức là ta phải tránh lối sống của người không kính thờ Chúa, không đi theo những người phản nghịch Ngài và bỏ tính kiêu căng ngạo mạn đối với Chúa cũng như đối với người khác. Không được nhạo báng bất cứ ai.
TV1,1-3 cho thấy muốn được hưởng phước lành của Chúa, không những phải tránh đường tội ác mà ta còn phải "lấy làm vui vẻ về luật pháp của TC và suy gẫm luật pháp ấy ngày đêm". Vui vẻ về lề luật của TC là yêu thích  lời Thánh Kinh và tìm thỏa mãn trong lời Thánh Kinh. Suy gẫm lề luật Chúa ngày đêm là suy tư và cầu nguyện thường xuyên, liên lỉ. Bí quyết để được hạnh phúc trong cuộc sống là phải yêu thích Lời Chúa dạy trong Thánh Kinh và liên tục suy niệm Lời ấy trong cuộc sống hằng ngày, hầu cho  Lời của Chúa trở thành một phần của con người mình, để chúng có thể tự nhiên sống, hành động và cư xử theo tiêu chuẩn của Lời ấy.
Người suy gẫm Thánh Kinh ngày đêm, được TV mô tả như một cây tươi tốt, trồng gần dòng nước, sinh hoa quả đều đặn từng mùa và không tàn héo ( câu 3 ). Đây thật là một hình ảnh rõ ràng, dễ hiểu. Người học Lời Chúa đều đặn mỗi ngày là người có sức sống mạnh mẽ, vui tươi và hữu ích cho người chung quanh. Không những thế, Chúa còn hứa rằng : "Người như thế làm chi cũng sẽ thành". Để được lạc quan yêu đời trong cuộc sống, hãy áp dụng bí quyết Chúa dạy, đó là yêu thích Lời Chúa, ngày đêm suy gẫm và hết lòng cậy trông. 
Trên mặt tích cực, để nhận được phước của Chúa, chúng ta phải kính thờ Chúa, vâng theo lời dạy của Ngài và sống khiêm nhường trong nguyên tắc "kính Chúa yêu người". Kính Chúa không có nghĩa là không yêu Chúa mà phải đi đôi với lòng mến Chúa. Nếu chỉ yêu người mà không yêu Chúa thì điều ấy có ý nghĩa gì ! Yêu người không cũng chưa đủ, cần phải yêu Chúa nhiều hơn - Đây là ý nghĩa thần học, vì Chúa nói rằng : "Ai yêu con trai và con gái hơn Ta, không xứng đáng làm môn đệ Ta"( Mt 10,37b ).

3. Tâm tình cầu nguyện :

        Con nuôi con bằng lời Ngài,
        Qua tháng năm gian khổ miệt mài
        Ngài thẩm thấu trong con diệu vợi.

        Con nuôi con bằng lời Ngài,
        Qua tháng ngày không bị nhạt phai
        Ngài  ấp  ủ  trong  con  tình  mến.

        Lòng con mê mải Đấng Mê-si,
        Ngài gởi bao câu chuyện thầm thì
        Đọc Thánh Kinh, nghe Lời Chúa phán
        Tâm   hồn   tỏa   sáng   đẹp   lưu   ly.

Cảm tạ Chúa đã tha thứ tội lỗi của con, cứu chuộc con; đồng bào con còn nhiều người chưa được biết Chúa, họ vẫn sống trong tăm tối, xin Chúa giúp con mạnh dạn giới thiệu Chúa cho họ. Xin Chúa giúp con ham thích Lời Chúa, sống và làm theo Lời Chúa dạy trong từng khía cạnh của đời sống mỗi ngày, như lời TV nhắc nhở.

JB.SĨ TRỌNG.


Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2021

Lãnh nhận và biết ơn

 


Mời đọc Tin Mừng Macco : đoạn 10, từ câu 46 đến câu 53.

Có lẽ chúng ta sẽ cùng "ghiền" Kinh Thánh với nhau. Trong mùa COVID này, lệnh Giãn cách được Chính phủ ban hành, các nhà hàng, các cửa tiệm đóng cửa, toàn bộ học sinh các trường phải nghỉ học, công viên cấm tụ tập và cấm các sinh hoạt...ngay cả đi bộ buổi sáng, tôi cũng không được bước chân vào công viên. Dĩ nhiên là đi đâu cũng phải bịt khẩu trang. Sài Gòn có dịch thì Long Khánh - Đồng Nai ở cũng không yên, cần cảnh giác cao. Tôi đã tận dụng thời gian để đọc Kinh Thánh và viết nên những suy tư của mình.
*Mc 10,46-53.
Mỗi chúng ta có dịp đọc qua phân đoạn này nhiều lần và quen thuộc với phép lạ Chúa cứu người mù tại Giêricô. Batime là nhân vật chính của câu chuyện, anh ta để lại nhiều ấn tượng, nhiều nhắc nhở quý giá :
    1. Chớp lấy cơ hội : Nghe tin Chúa Giêsu (GS ) đi ngang qua, Batime đã tranh thủ ngay, kêu lớn tiếng cầu xin thương xót của Chúa. Ngồi bên vệ đường mà miệng cứ rống lên: "Lạy ông GS, con vua David, xin dủ lòng thương tôi !"( Mc 10,47 ). Batime không biết gì về chương trình của Chúa GS, nhưng anh đã hành động đúng lúc, kịp thời, vì đây là lần đi cuối cùng của Chúa GS trước khi Chúa chịu nạn. Nhiều khi dịp may không đến hai lần. Do dự, lần lữa, đánh mất dịp tiện, làm chúng ta tiếc nuối suốt đời. Batime đã chớp lấy cơ hội.
    2. Kiên trì không nản lòng : Dù bị người xung quanh nghiêm cấm, ngăn cản; Batime không bỏ cuộc, tiếp tục kêu xin Chúa cứu giúp. Kiên nhẫn của anh không luống công, Chúa lắng nghe và bảo người ta đem anh đến. Anh liền cởi bỏ áo ngoài, để đến gặp Chúa ngay ( Mc 10,49-50 ).
    3. Biết rõ nhu cầu : Khi Chúa hỏi anh cần gì ? Anh không xin thức ăn, tiền bạc, hoặc các sự giúp đỡ khác như thường tình; nhưng xin Chúa chữa cho anh sáng mắt, cho anh nhìn thấy được. Đây là nhu cầu cao quý nhất, đích thực nhất, vì tất cả các nhu cầu khác đều thứ yếu ( Mc 10,51 ).
    4. Biết ơn chân thành : Được Chúa chữa lành, mắt anh thấy rõ, Batime rất mừng, nhưng anh không lo chạy về với gia đình, liên hoan với bè bạn; anh quyết định theo Chúa, làm Môn đệ của Ngài. Phúc âm chép rằng : "Tức khắc, anh ta thấy được và đi theo Ngài trên con đường Ngài đi"( Mc 10,53 ). Đi theo Chúa trên con đường Chúa đi, tức là anh ta đã làm Môn đệ của Chúa. Một thái độ dứt khoát, không do dự.

Câu chuyện trên đây hoàn toàn khác với câu chuyện người mù trong Tin Mừng của Gioan : Jn 9,1-41. Câu chuyện trên đây Matthêu mô tả có tới hai người được chữa lành ( Mt 20,30 ), nhưng trong hai người đó có lẽ anh chàng Batime là nỗi bậc nhất nên Maccô mới ghi nhận những cử chỉ của anh ta như: cởi áo choàng ngoài ra và vất lại, giật phắc người đứng dậy mà đến gần Đức GS ( Mc 10,50 )...Để xác tín hơn câu chuyện này ta nên tham khảo Tin Mừng Luca ( x Lc 18,35-43 ). Có điều cả hai Thánh Sử đều chép lời Chúa GS nói với Batime : "Lòng tin của anh đã cứu chữa anh"( Mc 10,52 v Lc 18,42 ) - ngụ ý Chúa GS không chữa lành anh ta mà chính đức tin đã cứu chữa anh ta. Rõ ràng Chúa GS đã chữa lành Batime cơ mà, điều này ai cũng biết, nhưng chính Chúa cũng muốn cho chúng ta thấy được lòng tin con người là quyết định nhất. Phép lạ chỉ xảy ra khi con người có lòng tin thật sự.

Nhìn lại cuộc đời, ai trong chúng ta chắc cũng không tránh khỏi những lúc thiếu cẩn thận, nhận định sai, không ý thức tầm quan trọng của công việc, hoặc đời sống và đã đánh mất cơ hội, hoặc thiếu kiên nhẫn, bỏ cuộc giữa chừng; gây cớ vấp phạm, đổ vỡ, đau thương cho chính mình, người thân yêu, cùng anh chị em khác. Đây là cơ hội quý báu để chúng ta cầu xin Chúa chữa những mù quáng sai lạc về tình cảm, tâm lý, tâm linh...; bắt chước Batime xin Chúa mở mắt tâm linh, biết rõ nhu cầu đích thực của cá nhân, gia đình, xã hội; cho chúng ta thấy được hướng đi mới trong cuộc đời. Cũng theo gương Batime, trung tín làm Môn đệ, siêng năng học Lời Chúa và cầu nguyện với Chúa thân mật mỗi ngày. Đồng thời biết ơn Chúa trong sự sử dụng và dâng hiến thì giờ, tài năng, sức khỏe của mình dành cho Chúa và cho tha nhân.

Cầu nguyện : Lạy Chúa GS, con xin dâng cuộc đời con trong tay Chúa. Xin giúp con trung tín với Ngài, học Lời Ngài, tương giao mật thiết với Chúa mỗi ngày, để mắt tâm linh con được mở ra và theo Chúa đi đúng trọn đường.

JB.SĨ TRỌNG.
P/s : Mời đọc thêm bài viết "Từ câu chuyện người mù..." trên "Bài suy niệm 8" của Blog này.


Thứ Sáu, 28 tháng 5, 2021

Chiên và Người Chăn


 I. NGƯỜI CHĂN VÀ CHIÊN LẠC :
Tin Mừng Matthêu ghi lại lời Chúa Giêsu ( GS ) phán cùng các Môn đệ : "Anh em nghĩ sao ? Ai có một trăm con chiên mà có một con bị lạc mất, thì há chẳng để chín mươi chín con kia trên núi, mà đi kiếm con đã lạc mất sao ? Và nếu may mà kiếm lại được, Thầy bảo thật anh em, người ấy lấy làm vui mừng về con đó, hơn là chín mươi chín con không bị lạc"( Mt 18,12-13 ). Có lẽ ta cũng nên đọc Tin Mừng Luca nữa chứ : "Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất ? Tìm được rồi người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó"( Lc 15,4-7 ). Có gì khác nhau không nhỉ ?
Đọc sách nói về đất nước Do Thái, tôi mới biết rằng: Ở xứ Giu đê chiên rất dễ bị lạc, đồng cỏ trên vùng đồi chạy dài như xương sống xuống miền giữa. Dãi đất cao nguyên này chỉ rộng vài dặm không có tường ngăn, vì thế nếu chiên ra khỏi vùng đồng cỏ, đi lạc vào thung lũng hay hố sâu hai bên thì rất dễ lọt vô kẽ đá lởm chởm, không có cách nào leo lên hay bước xuống, và kẹt ở đó chờ chết. Thời Chúa GS đàn gia súc đa số là của chung nên thường có hai hoặc ba người chăn dắt. Chính vì thế người chăn có thể để chín mươi chín con lại, để đi tìm con chiên lạc, mà không sợ bị mất thêm con nào trong đàn. Những người chăn chiên thường rất vất vả khổ cực, hy sinh hết mình đi tìm con chiên lạc. Họ thương chiên lắm, không muốn để lạc mất một con nào, tình cảm của họ dành cho chiên cũng như thú cưng mình nuôi tại nhà vậy - Đó là thứ tình cảm tự nhiên chứ không phải vì lý do kinh tế. Ta có thể hình dung những đôi mắt đau đáu mõi mòn ngóng nhìn lên triền núi đợi chờ khi chưa thấy người tìm kiếm trở về, và nỗi vui của họ khi thấy anh ta lê gót trở về, vai vác con chiên lạc còn sống sót, mừng rỡ nghe anh thuật chuyện tìm chiên. Đây là bức tranh về Thiên Chúa ( TC ) và tình yêu của Ngài, trong hình ảnh người chăn chiên mà Chúa GS đã phát họa - Một hình ảnh đầy tính nhân văn, gây ấn tượng và tạo xúc cảm ngay, qua đó chúng ta khám phá mỗi người đều được dạy dỗ về tình yêu thương của TC với những nét cụ thể sau :
          1.Tình yêu của TC là tình yêu tự bản chất : Chín mươi chín con không đủ, một con còn ở triền núi, người chăn không thể yên tâm nghỉ ngơi cho đến khi mang được nó về ! Cha mẹ của một gia đình dù đông con, cũng không thể thiếu mất một đứa, không đứa nào không quan trọng.TC không thể an vui cho đến khi kẻ hư mất cuối cùng được cứu. Nếu có sự gì bất trắc, con cái đau khổ một thì ba mẹ đau khổ mười. Đối với TC cũng vậy, "Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất"( Mt 18,14 ).
          2.Tình yêu của TC là tình yêu kiên nhẫn : Chiên là con vật hiền lành và khờ dại. Tôi đã có dịp đi vào một khu du lịch và bồng nó lên vai, đúng là một con vật hiền lành và khờ dại ! Người ta thường ít kiên nhẫn với kẻ khờ dại. Cảm tạ TC, Ngài không như vậy. Chiên có thể dại dột, nhưng người chăn bỏ mạng sống mình mà cứu . Con người có thể ngu muội, nhưng tình thương TC thì hãi hà, Ngài yêu thương mọi người, kể cả kẻ ngu muội. Ngài kiên nhẫn và đánh thức con tim, Ngài chờ đợi sự trở lại của họ. Chúa GS nói : "Trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn"( Lc 15,7 ).
          3.Tình yêu của TC là tình yêu tìm kiếm : Người chăn không ngồi ở chuồng đợi chiên trở về, anh ra đi tìm nó. Trong Chúa GS, TC đã đến tìm kiếm những kẻ lạc mất. TC không chịu chờ đợi con người trở về, Ngài ra đi tìm họ bất chấp mọi gian nguy, mọi giá phải trả. Ngài không bao giờ ngồi trên lưng một con của đàn chiên một trăm con, để rồi cứ đếm thiếu một con - Ngài kiểm soát và nắm được số lượng chính xác, Ngài biết con chiên bị lạc mất và bằng mọi cách để tìm kiếm được.
          4.Tình yêu của TC là tình yêu hân hoan : Ở đây chỉ có sự vui mừng hoan hỉ, không có sự quở trách phàn nàn. Người ta không bao giờ quên tội lỗi của người chống lại mình, nhưng Chúa GS bỏ mọi tội ra phía sau. Khi chúng ta quay lại với Ngài, Chúa tiếp đón chúng ta với sự vui mừng trọn vẹn. ( Ta có thể đọc và liên hệ với câu chuyện "đứa con hoang đàng trở về" : Lc 15,11-32 ).
          5.Tình yêu của TC là tình yêu bảo vệ : Đó là tình yêu tìm kiếm và cứu vớt con người đừng để họ bị hư mất trở lại, để họ phục vụ đồng loại. Tình yêu khiến cho kẻ lầm lạc thành khôn ngoan, người yếu đuối thành mạnh mẽ, tội nhân được trong sạch, người nô lệ của tội lỗi thành người tự do trong thánh khiết, người thất bại trước sức cám dỗ thành người chiến thắng tội lỗi. Chúa sẽ giữ gìn và bảo vệ họ.

II. KẺ BƯỚNG BỈNH VÀ TÒA ÁN LƯƠNG TÂM :
Kẻ bướng bỉnh muốn nói ở đây cũng nằm trong kế hoạch của TC. Phân đoạn Tin Mừng trên của Matthêu nối liền với phân đoạn nói về việc "sửa lỗi anh em" : Mt 18,15-18. 
        1.Nội dung thứ nhất : Điều Chúa GS đề cập là "Nếu một người nào phạm tội nghịch cùng ngươi, hãy cố hết sức làm cho người đó nhận lỗi, và dàn xếp êm đẹp giữa ngươi và người đó" ( Mt 18,15 ). Ta có thể hiểu như thế. Trên căn bản, không bao giờ nên để mối giao hảo giữa chúng ta và một người khác trong cộng đồng tín hữu bị sứt mẻ. Gỉa sử có điều gì sai trái thì ta phải làm gì để sửa sai ? Đoạn này nêu cho ta cả một kế hoạch hành động để hàn gắn sự đổ vỡ trong mối tương thông giữa các tín hữu.
Nếu người nào gây buồn phiền, chúng ta phải nói ra ngay. Thái độ tệ hại nhất đối với điều sai quấy của người khác là cứ ấp ủ nó trong lòng. Nó đầu độc cả tâm trí và đời sống cho đến khi ta không thể nghĩ điều gì khác ngoài cảm giác mình bị tổn thương. Cảm giác như vậy phải được mang ra, nói lên và đối diện một cách công khai. Sự thẳng thắn đó cho thấy vấn đề không có gì quan trọng, gay go như ta nghĩ.
Kế đến, nếu ta cảm thấy ai đó đã làm điều sai quấy đối với mình, thì đích thân gặp người đó. Nếu cuộc gặp mặt cá nhân không đạt mục đích, chúng ta phải mời một vài người khôn ngoan đi cùng. Tuy nhiên, những người chứng đến không phải để làm chứng rằng người kia đã phạm tội mà để giúp đỡ hòa giải. Cũng có thể ta chính là người có lỗi.
Nếu cách đó cũng thất bại nữa, phải mang vấn đề rắc rối riêng của ta đến Hội Thánh. Tại sao vậy ? Bởi vì không bao giờ nên giải quyết những rắc rối bằng pháp luật xã hội, hay lý lẽ ở ngoài Chúa. Chủ nghĩa duy luật không dàn xếp được gì, chỉ gây thêm vướng mắc. Chỉ bởi sự cầu nguyện, sự yêu thương và tương thông trong Chúa, mối quan hệ cá nhân mới có thể hàn gắn lại. Hội Thánh là những Kitô hữu, chúng ta phân xử mọi sự không căn cứ trên sách vở, thủ tục, nhưng dưới ánh sáng của tình yêu thương.
        2.Nội dung thứ hai : Bây giờ chúng ta đến phần khó hiểu của phân đoạn Tin Mừng nêu trên. Matthêu nói nếu làm đến như vậy cũng không kết quả, hãy coi người phạm tội nghịch cùng chúng ta như người ngoại và kẻ thu thuế ( Mt 18,17 ). Phần này hơi căng đấy ! Cảm tưởng đầu tiên của ta khi đọc câu này là bỏ rơi người đó vì không còn cách gì cải hóa được nữa. Chúa GS không nói và không thể ngụ ý một điều như thế. Ngài không hề đặt giới hạn cho sự tha thứ con người. Như vậy Chúa GS muốn nói gì ? Chúng ta đã thấy khi Ngài nói đến những người thu thuế và tội nhân : Ngài luôn nói với lòng yêu thương, hiền hòa và hiểu biết đối với những tính chất tốt đẹp của họ. Không ai hoàn toàn tốt mà cũng không ai hoàn toàn xấu. Trong kẻ xấu vẫn có điều tốt, trong người tốt vẫn có điều xấu. Có thể điều Chúa GS nói là: "Ta không thấy kẻ thu thuế, người ngoại bang và tội nhân là kẻ tuyệt vọng. Theo kinh nghiệm Ta thấy có những tấm lòng dễ cảm động, và có nhiều người trong họ như Matthêu, Gia kêu đã trở thành bạn tốt. Ngay cả những kẻ có tội, bướng bỉnh như kẻ thu thuế, kẻ ngoại bang, các ngươi cũng có thể thu phục họ như Ta đã làm". Đây không phải là mệnh lệnh bỏ rơi một người, nó là thách thức thu phục người ấy bằng tình yêu, dù đó là tấm lòng cứng cỏi nhất. Đây không phải là câu nói tuyệt vọng, Chúa GS không thấy ai là người vô vọng cả, chúng ta cũng phải như vậy, vì những người này cũng có thể xem như là những con chiên lạc. Chiên bướng bỉnh - chiên lạc này chúng ta cũng phải cầu xin cho nó được ăn năn sám hối, biết nhận lỗi và khiêm tốn trở về với đường ngay nẻo chính.
        3.Nội dung thứ ba : Cuối cùng, trong phân đoạn Tin Mừng thứ hai này là một câu nói về buộc và mở : "Thầy bảo thật anh em: dưới đất anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; anh em tháo cởi điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy"( Mt 18,18 ). Ghê ! Có đâu mà Chúa cho chúng ta quyền hành lớn vậy ? Quyền ấy có thể nói là quyền thay mặt Chúa luôn đấy. Nếu ta lãnh nhận quyền hành đó và ta tưởng ta có quyền năng như Chúa thì ta trở thành kẻ kiêu ngạo mất rồi. Xét về mặt lương tâm ngay thẳng, hiểu hơi thoáng một chút, câu nói này không ngụ ý Hội Thánh có thể xá tội hay miễn xá, quyết định số phận của một người nào đó trong thời gian hay vĩnh viễn, mà với bất cứ ai cũng có thể thực hiện điều ấy. Tôi nghĩ nó không liên quan gì Bí tích Giải tội. Nó có nghĩa là những quan hệ chúng ta thiết lập, tự lương tâm chúng ta phán xét, nếu là tốt đẹp thì thuận ý trời, không tốt đẹp thì trời cũng khó chấp nhận được - vì vậy phải giữ cho mối quan hệ chính đáng tốt đẹp. Tin Mừng Macco 11:25-26 ghi nhận lời Chúa GS nói rằng : "Khi anh em đứng cầu nguyện, nếu anh em có chuyện bất bình với ai, thì hãy tha thứ cho họ, để Cha của anh em là Đấng ngự trên trời cũng tha lỗi cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ, thì Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng sẽ không tha thứ cho anh em". Mặc khác, ta cũng nên nhớ rằng: Ta biết tha lỗi cho người khác thì Chúa cũng tha lỗi cho họ; nếu họ có điều gì quá sai quấy mà lương tâm ta xét thấy khó tha thứ được, thì Chúa cũng khó tha thứ cho họ, không nhất thiết phải Linh mục ban Bí tích Hòa giải thì họ mới được tha thứ - Không tha thứ ở đây không có nghĩa là ta ghét họ hay nuôi thù hận với họ, về mặt lương tâm ngay thẳng thì trạng thái này chỉ xảy ra tức thời. ( Tôi rất mong có sự góp ý hoặc chỉ giáo để tôi hiểu đúng hơn ). Những kẻ gây ra tội ác quá trắng trợn, "vì tham lam, họ dùng lời lẽ gạt gẫm anh em để trục lợi"( II Pr 2,3a ), lương tâm ta thấy không thể tha thứ được, thì Cha trên trời đố mà Ngài tha thứ cho họ ! "Án phạt họ đã sẵn sàng" ( II Pr 2,3b ) - ở khía cạnh này Chúa đồng tình với ta vì Kinh Thánh đã chỉ rõ. Ơn tha thứ đến với bất cứ ai có lòng hối cải. Con người cần quảng đại với nhau và tự lương tâm mỗi người thấy được đúng, sai. TC hiện diện trong lương tâm ngay thẳng của mỗi người. Điều này có lần Cha Vinh Sơn Nguyễn Thành Công đến nhà chơi, cũng đã chia sẻ với chúng tôi như vậy.
Tôi nghĩ Bí tích Hòa giải có được sau khi Chúa GS trao quyền cho Phero và các Thánh Tông đồ khi gặp Chúa Phục sinh : Mt 16,19 và Jn 20,22-23. Giáo Hội tiếp nối Phero và các Thánh Tông đồ, lãnh nhận và thực thi quyền này. Người kế vị Thánh Phero, thay mặt Chúa GS cai quản Hội Thánh trần gian, lãnh nhận quyền bính này để ràng buộc hoặc tháo cởi. Nhờ quyền ràng buộc và tháo cởi, Giáo Hội duy trì trật tự nội bộ, đóng góp phần mình xây dựng xã hội trần gian, đồng thời phản chiếu tình thương của TC cho con người của mọi thời đại, mở ra phương tiện cho muôn dân con đường đến gặp gỡ Đức Kitô và đón nhận ơn Cứu độ. Và cũng nhờ đó mà con người lãnh nhận được ơn Tha thứ và Hòa giải : Hòa giải với Chúa và hòa giải với anh em ngay chính ở thực tại trần gian này. Thay cho lòng ăn năn hối cải thì hối nhân phải làm việc đền tội ( tự mình phải ý thức, biết lắng nghe lời khuyên của Linh mục ngồi tòa giải tội ). Muốn hòa giải được với Chúa thì phải hòa giải với anh em trước đã. Ta vẫn nói được như một lời xin lỗi Chúa vậy.

III. CẦU NGUYỆN :
Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa yêu con, cứu con. Xin giúp con luôn ở trong tình yêu của Ngài và chia sẻ tình yêu ấy cho người khác.
Xin Chúa ban cho con tấm lòng và đôi mắt của Chúa, để khi đến với người khác con luôn giữ được mối tương quan tốt đẹp.

JB.SĨ TRỌNG.

Thứ Năm, 27 tháng 5, 2021

Khúc hát Tình Trời

            (Tặng Trúc Linh )


1. Mối tương giao và hội nhập :
Với Đại dịch hôm nay, từ trong ngục tù của đời sống có những nơi như địa ngục: con người đau khổ, quằn quại, rên xiết. Từ trong ngục tù, con người ngước trông Chúa qua các thanh cửa sắt để cầu xin phước hạnh và bình an. Tin Mừng nói về cái "khát của linh hồn"( Jn 6,35 ), nhắc đến cái "đói trong cõi lòng" và nói về "sự sống sung mãn"( Jn 10,10 ). "Được sống và sống dồi dào" là điều Thiên Chúa ( TC ) làm, chỉ có Chúa đến và làm cho chúng ta mà thôi. Không ai có thể làm được.
Các câu đầu chương I, Tin Mừng Gioan cho biết rõ TC đã đến với loài người. Chúa Giêsu ( GS ) chính là người thật và là TC thật ( Jn 1,1-2 ), Chúa sẽ hồi phục con người ( Jn 1,14 ) vì Ngài có quyền năng như quyền năng sáng tạo của Chúa Cha vậy: "Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành"( Jn 1,3 ). Chúa GS được gọi là Ngôi Lời vì Ngài là thông điệp Chúa Cha gởi đến cho nhân loại. Một ai đó có thể thắc mắc : Tại sao Chúa không phán một lời, bật một tia lửa điện để xua tan bóng tối, tiêu diệt sự ác cho chúng sinh, chứng tỏ quyền năng của Ngài, như vậy có đơn giản không ? Nhưng cần biết rằng sự vui mừng và hạnh phúc của chúng ta có được là nhờ mối tương giao với TC trong tình yêu và lòng thương xót của Ngài. Chúng ta hiểu về một ông vua giàu mạnh yêu một thôn nữ, ông có quyền cưỡng bách cô gái về làm vợ ông chứ ? Nhưng ông có chiếm đoạt được tình yêu của nàng không ? Muốn chinh phục cô gái quê, nhà vua phải làm một gã tiều phu, lần mò đến xóm nghèo của cô gái để sống, để tỏ tình, mà trong lòng vẫn lo rằng nàng phải lòng một chàng nông dân láng giềng ( câu chuyện Cựu ước ). Ngôi Lời có từ thuở đời đời, "từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời"( Jn 1,1 ), thế nhưng Chúa Giêsu đã đến trần gian để bày tỏ chính TC, tình thương của Ngài cho chúng ta. Trong Ngài, chúng ta thấy và hiểu được Chúa Cha. Ngài là một với Chúa Cha vì "muôn vật dựng nên trong Ngài" và Ngài có trước muôn loài muôn vật ( Jn 1,16-17 ). Ngài là thân thể và là đầu Hội Thánh.
Cứ đặt giả thiết rằng : Nếu chúng ta dịch một bản văn tiếng Phạn sang tiếng Việt, chắc chắn sẽ là rất khó, nhưng dù sao thì hai thứ tiếng ấy cũng đều là tiếng của loài người. Đi đám tang của người Phật giáo, nghe các nhà sư tụng kinh tôi chẳng hiểu gì. TC muốn chúng ta biết chính Ngài - Qua Đức Kitô, TC phán với chúng ta, rồi Ngài để cho con người tự xử, tự thông dịch, giải bày theo phương cách của loài thụ tạo giống hình ảnh TC. Để chúng ta hiểu Ngài, Ngài gạt bỏ hết mọi chướng ngại để hòa trộn với loài người. Ngài làm một người giống y như chúng ta, mặc dầu Ngài vẫn là TC ( Jn 1,12-13 ). Với sự giáng trần thành người thật, TC đã hạ mình xuống, đổ ơn ra, bày tỏ lẽ thật, tiếp xúc và hồi phục con người, giúp con người vui hưởng hạnh phúc.
  
 2. Hai biểu tượng :
Biểu tượng Chiên Con và Bồ câu được nói đến trong Tin Mừng Gioan 1,29-32. Nét dịu dàng của biểu tượng này là thể hiện quyền năng cứu độ của TC.
     a.Biểu tượng Chiên Con : Nhiều khi trong những lúc cần kíp, sự khôn ngoan và sức lực của chúng ta chẳng giúp gì được. Tình yêu thánh của Chúa Cha không đến với chúng ta được vì tội lỗi của chúng ta, nên Chúa GS đã làm Chiên Con mang hết tội lỗi của chúng ta, chịu hy sinh như trong nghi lễ thờ phượng của người Do Thái xưa. Ngài mang hết tội lỗi của loài người, do đó nhận chịu sự thịnh nộ của Chúa Cha thế cho loài người. Chúa GS chết trên cây thập tự giá đặt ngoài thành Jêrusalem, nhưng về phương diện thần linh thì chính Ngài đã chịu chết và chuộc tội thay cho chúng ta tại chính nơi Ngai của TC. Trong sách Khải huyền, tác giả Gioan bảo rằng Chiên Con "ngự trên ngai" và rằng "cơn thịnh nộ của Chiên Con" nghịch cùng các người cao ngạo, giàu có và quyền thế trên thế gian này ( Kh 5,6-10 v 6,15-16 ). Bấy giờ con cái Chúa sẽ vui mừng thấy rõ rằng "sự điên rồ của TC còn hơn sự khôn ngoan của loài người, sự yếu đuối của TC còn hơn sự mạnh mẽ của loài người"( I Cr 1,23-25 ) ( Cách nói của Phaolo ).
     b.Biểu tượng Bồ câu : Trong một bài thơ viết về Huế, tôi có tả :
              "Nhà Đồ, Thượng Tứ, cửa Đông Ba
              Mấy  chú  chim  câu  đậu  mái  nhà
              Bảng lảng chiều buông lưng Núi Ngự
              Văn   Lâu   còn  vọng  tiếng  hò  xa..."
Hình ảnh chim câu ở đây không phải là biểu tượng, nó chỉ là một chi tiết ngoại cảnh từ thiên nhiên, một không gian hồi ức kỉ niệm.
Công trình Cứu chuộc của Đức Kitô là một trạng thái chuyển động trong một không gian lịch sử, bao gồm những động tác liên tục : Đức Kitô biến thành nhục thể, chịu đóng đinh, chịu chết, phục sinh, thăng thiên. Ta nhận chân được Đấng Cứu thế là Đức Kitô - Chính Đấng ấy đã dẹp hết mọi trở ngại ( trong vai trò Chiên Con ) để TC có thể đến cùng loài người trong Chúa Thánh Thần ( Bồ câu ) mà kết hiệp chúng ta lại với Ngài trong giao ước mới : "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế"( Mt 28,20 ). Đúng là Khúc hát Tình Trời, một biểu tượng trên cả tuyệt vời !

3. TC biết rõ mọi sự :
Khi chọn gọi các Môn đệ, từ xa, dưới gốc cây vả Chúa GS đã thấy Nathanaen và Ngài thấy tận đáy lòng của ông ( x Jn 1,47-50 ). Chúa GS là Đấng Cứu Thế, Ngài vừa là người thật, vừa là TC thật nên Ngài biết rõ mọi điều từ thâm sâu của lòng người, như Chúa Cha biết trước nhân loại sẽ phạm tội và Chúa Cha đã sai Con Một xuống để cứu chuộc nhân loại. Chúa GS biết khuynh hướng tội lỗi trong chúng ta, nên Ngài đã vực chúng ta từ tối tăm qua ánh sáng, vì nơi nào ánh sáng soi rọi bóng tối phải nhường bước. Dạy Giáo lý cho người Dự tòng tôi thường nêu vấn đề: Ta không thấy TC mà Người có thấy ta không ? Câu trả lời rất dễ học dành cho họ: Ta không thấy TC nhưng Người vẫn thấy ta, cho dù cả những sự kín nhiệm trong lòng thì TC vẫn thấy được. Chúa GS biết được cả chuyện riêng tư của người phụ nữ Samaria bên bờ giếng Gia-cop ( Jn 4,5-26 ), của người đàn bà bị băng huyết 12 năm cùng đám đông đi sau lưng Chúa ( Mt 9,18-22 v Lc 8,40-56 v Mc 5,21-43 )...
Nathanaen hiểu ra rằng Chúa thấy rõ lòng mình thì ông thỏa dạ lắm. Có người hiểu mình mà ! Chúa GS hiểu được lòng dạ con người ra sao ? Ngài không hiểu ta như một bạn tâm giao ngoài đời mà hiểu ta như một Đấng Toàn Tri. Ngài biết từ bên trong, Ngài rõ từng khúc nối của lòng ta để giữ chúng ta khỏi sa ngã. Có phải vì vậy mà Ngài chú ý kiêng ăn, làm giảm sức lực xuống để cảm nhận hết sức mạnh độc hại của Satan mà đối phó với nó chăng ?( x Lc 4,1-12 ). TC không chỉ chống lại quân thù từ phía ngoài hay ở một vị trí cao hơn, mà có khi Ngài lại để cho Satan thâm nhập vào bên trong rồi làm cho nó nổ tung từng mảnh. Thật kỳ diệu thay, TC đã tự hạ xuống như con người để biết sức phá hoại và sự cám dỗ của Satan. Cám ơn Chúa, do thực nghiệm này mà Ngài biết được tâm trí cùng khả năng của con người. Ngài rõ hết các âm mưu lắc léo của Satan trên đời sống ta và cũng biết ta có thực sự chống lại Satan hay dễ dàng khuất phục dưới quyền năng nó. Ngài thấu rõ tâm tư, thái độ, ý chí, nguyện vọng của chúng ta để chữa trị tận gốc cho ta. Hãy đồng thanh với Phêro mà thưa rằng : "Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi sự"( Jn 21,17 ). Đức tin cứu rỗi thật sẽ giúp chúng ta bền đỗ.

4. Cầu nguyện :
Cảm tạ Chúa đã xuống thế làm người cho con hiểu được tình yêu và tiếng phán của Ngài. Xin giúp con luôn sống trong tình yêu của Chúa.
Lạy Chúa là Chiên Con của TC ! Xin cho con được tự do mọi bề để có thể phục vụ Chúa hôm nay.
Lạy Chúa, xin cho tình Chúa giao hòa trong con, xin cho con biết được lòng con như Ngài đã biết con vậy. Amen !

JB.SĨ TRỌNG.

Thứ Bảy, 22 tháng 5, 2021

Bao lâu Tận Thế ?


I. Tản mạn tâm tình :
Trong một bài thơ với tựa đề: "Giấc mơ ngày Tận thế", tác giả có viết một đoạn như sau :
          
          "Không thể  biết ngày  giờ nào  sẽ đến,
          Cho  đất  trời  có  dịp  kết  hôn  nhau
          Dù  thảm  họa  đi  vào, nhân  loại  hết
          Vẫn còn trời muôn thuở mới, thâm sâu".

Bao lâu Tận Thế ? Đố ai biết được ! Theo như Kinh Thánh thì ngày đó ngay cả Chúa Con cũng không biết ( Mt 24,36 v Mc 13,32 ). Chúa Giêsu (GS) không biết thì làm sao ta biết được ? Chúa GS nói rõ : "Chỉ có Chúa Cha biết mà thôi". Nhiều người cũng lo xa mà không lo hiện tại, lại còn lười đọc và học Thánh Kinh. Một lời tiên tri cách đây gần 2000 năm, có lẽ đúng với thời điểm bây giờ : "Thật vậy, sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh...Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường"( 2 Tm 4,3-4 ).
Một cách khách quan, nói ra thì dễ đụng chạm. Ngày nay người ta thích đọc những thông tin giật gân hơn là đọc Kinh Thánh. Tôi biết có người nói rằng lúc nào nhà họ cũng có một cuốn Kinh Thánh, có thể họ đặt lên bàn thờ cho bụi bám dày nhưng ít khi họ mở ra đọc. Người ta đọc rất nhiều sách báo mạng, báo xã hội, nhưng lại bỏ qua cuốn sách quan trọng - đó là Thánh Kinh, vì đây là lời Thiên Chúa ( TC ) nói với nhân loại, TC mặc khải cho loài người. Người ta lãng phí cuộc đời và năng lượng của họ trước một cái ti vi, trước một cái điện thoại... vào vô số những thứ nhảm nhí, nhưng lại lơ là đối với điều duy nhất thật sự quan trọng : Tìm thấy TC.

II. Các dấu chỉ từ Thánh Kinh :
Đúng với chủ đề bài viết, xin lặp lại câu hỏi : Bao lâu Tận Thế ? Ta nói là ta không biết, nhưng qua Kinh Thánh Chúa có phán rằng : "Anh em cứ lấy thí dụ cây vả mà học hỏi. Khi cành nó xanh tươi và đâm chồi nảy lộc, thì anh em biết mùa hạ gần tới. Cũng vậy, khi các ngươi thấy ( mọi điều Thầy đã nói ), các ngươi hãy biết là Con người gần đến, Ngài đang ở trước cửa" ( Mt 24,32-33 v Mc 13,28-32 v Lc 21,29-33 ). Thí dụ này 3 Thánh sử Tin Mừng đều ghi nhận, xin xem lại chú thích. 
Đấng khôn ngoan đời đời, Ngài không dại gì cho biết một ngày giờ nhất định, vì nếu biết trước, khi gần tới ngày ấy con người sẽ buông xuôi, và mọi công việc làm ăn có lẽ sẽ đình trệ. Khi con người buông tay, buông thả mọi sự rồi thì còn gì nữa đâu. Họ là những kẻ lười biếng. Kẻ nhát gan và tội lỗi có thể tự sát. Người can đảm, người biết Chúa có thể ỉ lại và tự kiêu. Tự sát hay tự kiêu, cả hai thứ đều là tội lớn !
Trái đất có nổ tung hay không ? Nhìn các cường quốc đua nhau chế tạo vũ khí nguyên tử, ta có thể nói rằng chắc có ngày trái đất cũng bị nổ tung, nhưng ngày giờ nào cũng không làm sao biết được. Mọi dự đoán đều vô ích, chỉ có dựa vào Lời Chúa thì ta biết được những gì cần thiết ( Lc 10,42 ), để ta chấp nhận sống và đợi chờ ngày Chúa đến, như Lời Chúa nói.
Những điều Chúa nói, Chúa báo cho ta biết trước là gì ? Các Thánh sử Tin Mừng ghi lại : "Ngài đang ngồi trên núi Ôliu, Môn đệ tới riêng cùng Chúa và hỏi rằng : Xin Chúa phán cho chúng con biết lúc nào và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế ? Chúa GS đáp rằng : Anh em hãy coi chừng, đừng để ai lừa gạt anh em. Vì nhiều người sẽ mạo danh Ta đến mà nói : ta là Đấng Kitô, và sẽ dỗ dành nhiều người. Các ngươi sẽ nghe nói về giặc giã và tiếng đồn về giặc giã: Hãy giữ mình đừng bối rối, vì những sự ấy phải xảy ra, song chưa phải là tận cùng. Dân này sẽ dấy lên nghịch cùng dân kia, nước nọ nghịch cùng nước kia. Sẽ có những cơn đói kém và những trận động đất ở nhiều nơi. Nhưng tất cả những sự việc ấy chỉ là khởi đầu các cơn đau đớn. Bấy giờ người ta sẽ nộp các ngươi trong sự hoạn nạn và giết đi, các ngươi sẽ bị mọi dân ghen ghét vì danh Ta. Khi ấy cũng có nhiều kẻ sẽ sa vào chước cám dỗ, phản nghịch nhau và ghen ghét nhau. Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ. Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều, thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội dần. Tin mừng này về Nước TC sẽ được giảng ra khắp địa cầu để làm chứng cho muôn dân, bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến"( Mt 24,3-14 v Mc 13,5-13 v Lc 21,8-19 ).
Chúa còn báo trước về sự khốn khó sẽ xảy ra : "Khi anh em thấy sự Ghê Tởm Khốc Hại lập ra trong nơi thánh mà Ngôn sứ Danien đã nói đến - người đọc hãy lo mà hiểu ( có sách dịch: "Ai đọc phải để ý" ) - thì bấy giờ ai ở miền Giuđê hãy trốn lên núi, ai ở trên sân thượng thì đừng xuống lấy đồ đạc trong nhà, ai ở ngoài đồng đừng trở lại phía sau lấy lấy áo choàng của mình. Khốn cho những người mang thai và những người cho con bú trong những ngày đó ! Anh em hãy cầu xin cho khỏi phải chạy trốn vào mùa đông hay ngày Sabat. Vì khi ấy sẽ có cơn gian nan khốn khổ đến mức từ thuở khai thiên lập địa cho tới bây giờ chưa khi nào xảy ra, và sẽ không bao giờ xảy ra như vậy nữa. Nếu những ngày ấy không được rút ngắn lại, thì không ai được cứu thoát; nhưng vì những người được tuyển chọn, các ngày ấy sẽ được rút ngắn.
Bấy giờ, nếu có ai bảo anh em : Này, Đấng Kitô ở đây, hoặc ở đó, thì anh em đừng tin. Thật vậy sẽ có những Kitô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điềm thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt cả những người đã tuyển chọn, nếu có thể. Thầy báo trước cho anh em đấy !
Vậy, nếu người ta bảo anh em : Này, Người ở trong hoang địa, anh em chớ ra đón; Kìa, người ở trong phòng kín, anh em cũng đừng tin. Vì như chớp lóe từ phương đông và chiếu sáng đến phương tây thế nào, thì cuộc quang lâm của Con Người cũng như vậy. Xác chết ở đâu, diều hâu bâu ở đó" ( Mt 24,15-28 v Mc 13,14-23 v Lc 21,20-24 ).
Ồ, dài quá - chỉ muốn lấy nguyên văn Thánh Kinh nên có dài cũng phải trích dẫn cho hết vì đây là bằng chứng cụ thể, hơn là suy đoán viễn vông. Người viết bài này không có ý thêm bớt gì. Cứ bám vào Lời Chúa là chắc cú nhất, chẳng có gì phải hoang mang dao động, suy diễn lung tung thêm mệt óc. Chúng ta xem thử lời Chúa GS đã ứng nghiệm chưa ? Những gì xảy ra trên cuộc đời này đã ăn khớp với lời Ngài nói chưa ? Đây có thể là thời điểm mà Lời Chúa nhắc nhở mọi người cần tỉnh táo.
Câu cuối của phân đoạn Tin Mừng nêu trên là : "Xác chết ở đâu, diều hâu bâu ở đó"( Mt 24,28 ), cũng có sách dịch: "Nơi nào có xác chết, thì những chim ó sẽ nhóm tại đó" - Câu này nghe khủng khiếp quá, nhưng hiện nay mùa Đại dịch COVID, Ấn Độ mỗi ngày hơn 4000 người chết, chất củi đốt không kịp, có khi người ta phải quăng xác xuống sông, quạ đen bay tới rỉa. Khi nạn dịch mới xảy ra, Vũ Hán cũng hàng ngàn người chết mỗi ngày, xác người chôn và thiêu không kịp, ai từng xem trên YouTube đều thấy được cảnh tượng từng đàn quạ bay tới đen nghịt cả bầu trời. Tiếp đến là Ý, Hàn Quốc, rồi Anh, Pháp, Mỹ, Brazin, v.v...hàng trăm linh mục cũng phải ra đi, con người ta chết la liệt. Thế giới rơi vào khủng hoảng. Chỉ chừng ấy thôi là ta thấy đúng như lời của một câu nói, mặc dầu chưa phải là toàn bộ, chưa phải là ngày cuối cùng của nhân loại. Chưa kể đến những hiện tượng thiên nhiên : động đất, sóng thần; rồi chiến tranh, tai ương, giặc giả xảy ra khắp nơi.v.v...Những kẻ mạo danh lại quá nhiều, họ tự xưng mình là Kitô, là ngôn sứ, là Hội Thánh Phục hưng, Hội Thánh Đức Chúa Trời, Sứ điệp từ trời, Nhóm trừ quỷ từ nhà Chúa Cha.v.v... họ "lừa gạt cả những người đã tuyển chọn" như lời Chúa đã cảnh báo - Một phân đoạn mà Chúa nhắc đi nhắc lại tới 3 lần: Mt 24, 4 v 11 v 24. Chúa biết trước mọi sự, riêng chuyện này Chúa cần cho nhân loại biết rõ hơn. Phân đoạn Tin Mừng trích dẫn ở trên, trình bày quá đầy đủ, ai cũng có thể đọc và tự suy gẫm lấy. Chúa GS đã nhìn thấy có hai nguy cơ đe dọa Hội Thánh trong tương lai :
        1.Nguy cơ của các tiên tri giả, hay là những người lãnh đạo giả. Họ là những người tìm cách truyền bá quan niệm riêng của mình về chân lý của Chúa GS. Họ là những người gieo rắc những ý tưởng riêng của mình nhiều hơn là Chân lý của Đức Chúa Trời. Và trên hết, họ là những người tìm cách lôi kéo người khác đến với họ hơn là đến với Chúa. Hậu quả không tránh được là họ gây ra sự chia rẽ hơn là xây dựng sự hiệp nhất.
        2.Mối đe dọa thứ hai là sự nản lòng. Lòng yêu thương của một số người sẽ bị nguội lạnh vì tình trạng vô kỷ cương càng ngày càng gia tăng trong thế giới. Người tín hữu chân thật là người giữ vững niềm tin dù niềm tin đó gặp khó khăn, dù trong những hoàn cảnh có thể nản lòng, họ vẫn vững niềm tin nơi cánh tay quyền năng của TC.
Trên đây là những dấu chỉ nói về Ngày Tận thế, còn nói về ngày Chúa Quang lâm và phán xét, xin mời đọc và tìm hiểu từ các trang Kinh Thánh : Mt 24,29-31 v Mc 13,24-27 v Lc 21,25-28 ( Người viết không muốn trích dẫn thêm nữa vì bài viết đã dài ).

III. Thực trạng, mạng xã hội và lòng tin con người :
Hiện nay, mạng xã hội có nhiều VIDEO đang loan truyền nói về Ngày Tận thế, ai xem thì cứ xem, chẳng sao. Chỉ có điều là chúng ta đã đọc kỹ Kinh Thánh chưa, chúng ta có vững tâm không, có bền chí không, hay hoang mang sợ hãi ?
Tôi không nghĩ đây là thời kỳ thanh lọc, hay thời điểm Chúa thanh tẩy, như một số người thường phát ngôn. Thậm chí, có người còn cho rằng đây là thời kỳ Đại thanh lọc, những từ ngữ mà các video trên mạng bây giờ thường dùng để nói về "Ngày Tận thế". Tôi cho rằng : Tất cả là do con người mà ra. Tất cả do mưu đồ của kẻ độc ác gây nên, chứ không phải là việc Chúa làm, chúng ta không nên đổ thừa cho Chúa. Có hai cách suy nghĩ để chúng ta nói được điều ấy :
        1. Nếu Chúa muốn thanh lọc thì Ngài cho kẻ ác chết hết, để chừa người lành lại. Nhưng trong Đại dịch này những người hiền đức phải bỏ mạng, kẻ ác vẫn sống nhỡn nhơ. Nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Pháp, Ý, Ấn Độ. v.v...hằng trăm Linh mục đã chết, chưa kể các Thầy tu và Sơ dòng, chưa kể những người thiện nguyện.
        2. Hoặc nếu Chúa muốn thanh lọc thì Ngài cho người hiền chết hết, để kẻ ác được sống, rồi sau đó Chúa sẽ ra tay trừng trị bọn chúng.
Như thế lập luận đây là thời kỳ Chúa thanh lọc thì không hoàn toàn đúng.
Đọc Kinh Thánh ta thấy quá rõ ràng. Chúa nói quá rõ rồi, không cần phải nghe những lời suy diễn đồn đoán nữa. Không có Sứ điệp nào bằng Sứ điệp Phúc âm. Ta hãy tin vào Phúc âm vì Phúc âm là Lời Chúa : "Trời đất có qua đi, song những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu"( Mt 24,35 v Lc 21,33 v Mc 13,31 ). Chúa phán chắc như đinh đóng cột đó mà ! Và ta cũng hãy nhớ lời Chúa Giêsu nói : "Anh em hãy coi chừng, đừng để ai lừa gạt anh em"( Mt 24,4 ). Thánh Phêro lại chỉ rõ cho chúng ta : "Sẽ có những thầy dạy giả hiệu, đó là những kẻ lén lút đưa ra những tà thuyết dẫn tới diệt vong"( I Pr 2,1 ). Trong Tin Mừng dấu hiệu về ngày thế mạt, Chúa nói quá rõ rồi, cần gì ai phải nói thay Ngài nữa.
Lắm lúc nhìn vào tình trạng suy đồi của xã hội, những cảnh tượng vô lý xảy ra trước mắt mình, chúng ta cũng mang tâm trạng u buồn vì thấy dường như kẻ ác vẫn thành công, thắng lợi, mà những lời cầu xin của ta dường như không được Chúa chấp nhận. Thế rồi ta cũng đặt ra câu hỏi : Tại sao TC lại để một dân hung ác hành hạ con dân của Ngài và cả thế giới ? Ta quên rằng: Họ cũng là con cái của Chúa cả !
Nhìn lại những năm tháng cuộc đời, chúng ta thấy được bàn tay uy quyền của TC dẫn dắt mình, chắc chắn chúng ta cũng tôn vinh và chúc tụng Ngài. Bao lâu Tận thế chúng ta không biết, nhưng chúng ta phải yêu thương thế gian vì nhờ tình yêu của TC mà thế gian đã có ý nghĩa. Chúng ta yêu thương thế gian không phải bằng tình thương thụ động vì cho rằng thế gian quá mờ tối và đã bị định tội, chúng ta yêu thế gian vì hiểu rằng quyền năng của ân sủng sẽ đắc thắng sức mạnh của tội lỗi ( x Jn 3,17-18 ). Máu Chúa đổ ra không vô ích, từ trên thập tự Chúa GS có đủ quyền năng để ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu ( Jn 3,16 ). Ta cần phải biết chắc niềm tin mạnh mẽ giúp ta vượt khỏi sự ham mê phù phiếm của đời này như thích được tâng bốc khen lao, ham danh vọng, chạy theo của cải vật chất, yêu thích sự đồng cảm để chia sẻ... Tất cả mọi thứ đều là phù hoa. Chỉ có thờ phượng TC là không phù hoa ( Sách Giảng viên ). Gía trị thần học mang lại ơn Cứu độ nhiều hơn những tư tưởng an ủi vỗ về của thế gian.

 IV.Lời kết :
        
"Ta cứ đợi, đến  bao giờ  Ngài đến
Mưa Hồng ân trút xuống cõi gian trần
Vướng tục lụy vẫn đắp xây tình mến,
Nghịch ngợm đời thắp nến để canh tân.

Thật quý hóa hỡi ai còn thức tỉnh,
Đam mê nhiều vờ vĩnh trộn cuồng say
Trang áo mới mặc ra ngoài dự tính,
Khiến cho hồn vời vợi cũng ngất ngây.

Ta cứ thế, miễn sao lòng yêu Chúa
Đem bình an ngự trị giữa tháng ngày
Mang khúc hát ca vang thềm lưới bủa
Cá đầy thuyền, biển lặng, vó cầm tay."
            ( Trích "Bình tâm ca" của JB.ST )

 Một lần nữa, có lẽ chúng ta nên nghe lời Chúa GS phán dạy : "Anh em hãy canh thức vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến...Anh em hãy sẵn sàng vì chính giờ phút anh em không ngờ thì Con Người sẽ đến" ( Mt 24,42 v 44 v 25,13 ). Và thái độ của chúng ta thế nào, chúng ta có nên lo sợ không ? Chúa GS cho chúng ta câu trả lời : "Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẫng đầu lên, vì anh em sắp được cứu rỗi" ( Lc 21,28 ). 

V. Cầu nguyện :
Lạy Chúa GS, xin chiếu sáng đời con, soi dẫn lối đi của con, dạy con yêu thương thế gian theo ý thánh Ngài. Cầu xin Chúa giúp con thấy được các nan đề cách khôn ngoan, cho con biết "nhìn xem" và "chờ đợi". Amen !

JB.SĨ TRỌNG.