Thứ Hai, 26 tháng 8, 2024

Những câu chuyện ý nghĩa



Một lần, đại văn hào Pháp Victor Hugo đi thăm nước Phổ. 
Khi đến biên giới Pháp-Phổ, một nhân viên hải quan Phổ hỏi :
        - Xin ông cho biết ông làm nghề gì ?
        - Tôi viết.
        - Tôi muốn hỏi ông sinh sống bằng nghề gì ?
Lần này Hugo đáp gọn :
        - Bằng ngòi bút.
Đúng là chuyện khôi hài : Nhân viên hải quan nọ gật đầu ra vẻ thông hiểu. Sau đó anh ta ghi vào tờ thị thực nhập cảnh : "Hugo, nhà kinh doanh ngòi bút".

Năm 1862, khi tiểu thuyết "Những người khốn khổ" vừa được xuất bản, Victor Hugo đang nghỉ phép. Ông muốn biết độc giả cảm nhận tác phẩm của mình như thế nào, bèn gởi một bức điện cho chủ xuất bản chỉ với một dấu chấm hỏi "?". Và chủ xuất bản trả lời bằng một dấu chấm than "!". Đây là cuộc trao đổi thư từ ngắn nhất trong lịch sử văn học.
                                                *
                                            *      *


     Abraham Lincoln vốn xuất thân trong một gia đình đóng giày.     Trong một cuộc vận động bầu cử Tổng Thống, Lincoln tranh cử, ông đã bị một nghị sĩ sỉ nhục về thân thế yếu hèn của gia đình mình. Để gây xốc, đồng thời làm mất đi ý chí và sự tự tin của Lincoln, vị nghị sĩ ấy nói thẳng với Lincoln :"Thưa ngài Lincoln, trước khi ngài diễn thuyết, tôi hy vọng ngài nhớ rằng, ngài là con trai của một thợ đóng giày". Ai ngờ Lincoln không hề tự ti mặc cảm một chút nào, ông nói : "Tôi vô cùng cảm ơn ông đã làm tôi nhớ lại người cha đáng kính của tôi. Tuy cha tôi đã qua đời, nhưng nhất định tôi sẽ ghi nhớ mãi lời nhắc nhở chân thành của người. Tôi biết rằng nếu tôi có làm Tổng Thống thì cũng sẽ không thể giỏi như cha tôi làm nghề đóng giày".

    Nghe những lời nói chân thành của Lincoln, vị nghị sĩ kia chìm trong im lặng. Rồi Lincoln quay đầu lại nói với viên nghị sĩ ngạo mạn ấy rằng : "Theo tôi được biết, trước đây cha tôi đã từng đóng giày cho những người trong gia tộc ông. Nếu giày của ông không vừa chân, tôi có thể sửa cho ông. Tuy tôi không phải là một người thợ đóng giày vĩ đại như cha tôi, nhưng từ bé tôi đã theo cha và học được một số kỹ năng". Sau đó Lincoln nói với tất cả các nghị sĩ : "Với bất kỳ ai trong thượng nghị viện này cũng vậy, nếu giày của quý vị là do cha tôi đóng mà quý vị cần sửa chúng, nhất định tôi sẽ cố gắng hết sức để giúp quý vị. Thế nhưng, tôi xin nói trước với quý vị một điều, tôi không vĩ đại như cha tôi, tay nghề của ông ấy không ai có thể sánh kịp".

    Nói đến đây, Lincoln rưng rưng nước mắt. Trong chốc lát, tất cả những chế giễu đều trở thành những tràng pháo tay chân thành. Sau đó, Lincoln đã trúng cử Tổng Thống Mỹ nhiệm kỳ thứ 16.

                                                    *
                                                *       *


    Nhà điêu khắc đại tài Michelangelo vừa hoàn tất một bức tượng. Nhà vua đến xem gật gù nói : "Ta thấy bức tượng này rất đẹp nhưng chưa hoàn hảo. Nên sửa vài chi tiết chỗ này, chỗ này...!"

    Michelangelo liền sai các phụ tá bắt thang trèo lên bức tượng, cầm búa đục gõ leng keng. Nhưng ông dặn tuyệt đối không được đẽo gì thêm vào bức tượng, không cần sửa gì cả, bức tượng đã hoàn tất rồi.
Sau một hồi các phụ tá leo xuống. Nhà vua tiến lại gần ngắm nghía bức tượng và nói : "Thấy chưa Michel, bây giờ thì nó đã là một tác phẩm tuyệt mỹ !"
    Nhà vua đi khỏi, Michel nói với các phụ tá : "Bức tượng đã hoàn hảo, cái chúng ta vừa làm chỉ là thỏa mãn cái ẩn ức của Nhà vua thôi"...
    Tóm lại : "Đừng cãi với người ngu khi họ đang nắm quyền !"

                                                    *
                                                 *    *




    Trong giờ phút lâm chung, Alexander Đại đế triệu tập các cận thần của mình và nói với họ 3 điều ước cuối cùng của ông :
     1. Hãy để các ngự y giỏi nhất khiêng quan tài của ta.
    2. Hãy rải tài sản của ta bao gồm cả tiền, vàng, kim cương, đá quý...trên đường đến nghĩa trang.
    3. Hãy để đôi bàn tay của ta được thả lỏng và cho nó ra bên ngoài để tất cả mọi người đều thấy.
    Một trong những vị tướng của ông đã rất bất ngờ trước những đề nghị bất thường này nên yêu cầu Alexander Đại đế giải thích. Alexander Đại đế đáp :
    - Ta muốn các ngự y giỏi nhất khiêng quan tài của ta để chứng minh rằng, khi đối mặt với cái chết, ngay cả những thầy thuốc giỏi nhất trên đời cũng không có sức mạnh cải tử hoàn sinh.
    - Ta muốn rải hết tiền vàng trên đường để muốn mọi người biết rằng, sự giàu có về vật chất có được trên Trái Đất này thì sẽ phải ở lại Trái Đất.
    - Ta muốn bàn tay ta thòng ra ngoài đung đưa trong gió, để mọi người hiểu rằng, chúng ta đến với thế giới này bằng hai bàn tay trắng, thì khi rời thế giới này cũng với hai bàn tay trắng.
    Chúng ta sẽ không còn gì, sau khi tài sản quý giá nhất của chúng ta đã cạn kiệt đó là : Sức khỏe ( tinh thần và thể chất ) và thời gian chất lượng ( dành cho bản thân và gia đình ).

                                                    *
                                                 *     *




    Cô gái trẻ quần áo xộc xệch, với làn da trắng mịn để lộ bầu ngực, cho một ông lão ngậm vú - Đó là bức tranh sơn dầu của Rubens, với tên gọi : "Simon và Perot". Những người lần đầu tiên bước vào Viện Bảo tàng đã cảm thấy kinh ngạc khi nhìn bức tranh ấy, có người còn cười và chế nhạo : "Sao có thể treo bức tranh như vậy ngay cửa chính của Viện Bảo tàng chứ ?" Nhưng người dân nước Puerto Rico thì rất kính trọng bức tranh này, có người cảm động đến rơi nước mắt. Cô gái trẻ để lộ bầu ngực là con gái của ông, ông lão chính là cha cô gái. Simon trong bức tranh chính là người anh hùng đã đấu tranh đòi độc lập cho nước Puerto Rico, nhưng bị bắt giam vào ngục và bị kết tội "cấm thực".
    Ông già chết dần chết mòn vì đói khát, kiệt quệ, toàn thân như muốn ngã quỵ. Lúc lâm chung, con gái ông vừa sanh con, đến thăm cha. Nhìn thấy cơ thể suy nhược của cha, không muốn cha chết thảm, cô đã cởi áo đưa dòng sữa của mình cho cha bú. Cùng một bức tranh, có người cười nhạo, có người xúc động. Người không biết được câu chuyện thực sự đằng sau bức tranh sẽ chế giễu, người biết sẽ cảm thấy đau lòng.
    Con người thường chỉ nhìn thấy bề nổi của sự việc, không nhìn thấy bản chất. Nhiều lúc sự thật không như ta chứng kiến. Đáng sợ nhất không phải bị người ta gạt, mà chính là sự vô cảm của bản thân. Rất nhiều thứ không thể đánh giá qua bề ngoài. Hãy dùng trái tim tĩnh lặng, đôi mắt sáng suốt và trí tuệ để học thông bài học cuộc đời.

                                                      *
                                                   *    *




    Albert Einstein nói về Thuyết Tương đối của mình, có một anh chàng nghi ngờ nêu vấn đề :
    - Trí thông minh của người mạnh khỏe như tôi, không thể chấp nhận những cái mà nó không nhìn thấy.
    Einstein yên lặng một lúc rồi trả lời :
    - Được, điều đó có vẻ có lý lắm. Bây giờ ông đặt trí thông minh của ông lên bàn đây, thì tôi có thể tin rằng ông có một bộ óc thông minh.
    Anh chàng chịu thua. Cũng nhờ câu nói này của nhà bác học, về sau anh ta phải thừa nhận sự hiện hữu quyền năng của Thiên Chúa là Đấng vô hình.
    Mặc dù không thấy Thiên Chúa nhưng quyền năng của Ngài vẫn luôn được tỏ hiện qua thiên nhiên, vũ trụ và muôn loài.
 
                                                    *
                                                 *     *



    Lev Tolstoy viết một truyện ngắn và gởi đến một tòa soạn tạp chí, ký tên khác. Sau 2 tuần, ông đến tòa soạn để biết số phận truyện ngắn của mình. Một biên tập viên trẻ tiếp ông không lịch sự lắm, và bảo rằng truyện ngắn của ông sẽ không được đăng. Nhà văn hỏi lại :
     - Tại sao thưa ông ?
    - Thưa ông thân mến, khi đọc truyện ngắn của ông, tôi hoàn toàn tin đây là một người viết văn còn non nớt. Tôi thành thật khuyên ông hãy bỏ cái thích thú viết lách đi. Vào tuổi tác như ông, bắt đầu viết thì đã muộn rồi. Trước kia, xin lỗi, ông đã viết gì chưa ?
Tolstoy trả lời giọng trầm lắng :
    - Tôi có viết một số tác phẩm mà người đọc cũng đánh giá là được, chẳng hạn như : "Chiến tranh và Hòa bình" hay " Anna Karenina"...
    Người biên tập lặng đi không nói nên lời nữa.

                                                        *
                                                     *     *



Một câu chuyện được Đức cố HY.FX Nguyễn văn Thuận viết trong cuốn "Chứng nhân Hy vọng" như sau :
    Hôm đó, trên chuyến bay từ Ý qua Mỹ, mang theo một số Giám mục vừa dự Công đồng Vatican II về, có một cô chiêu đãi viên rất xinh đẹp. Sau chuyến bay, cô rất bực mình vì một đôi mắt cứ nhìn chòng chọc vào cô, và đôi mắt đó không ai khác hơn là Đức Cha Fulton Sheen, vị tông đồ lừng danh của nước Mỹ. Khi phi cơ hạ cánh, đợi cho các hành khách xuống hết vị Giám mục mới tiến đến trước mặt cô, nói nửa nghiêm trang nửa bông đùa :
        - Cô đẹp lắm ! Cô hãy cám ơn Chúa vì đã cho cô xinh đẹp !
    Vài hôm sau, có tiếng gõ cửa văn phòng của Đức Cha Fulton Sheen, cô chiêu đãi viên hôm nọ xuất hiện. Nàng cúi đầu chào và vào đề liền :
        - Thưa Đức Cha, câu nói của Đức Cha làm con suy nghĩ mãi. Con phải cám ơn Chúa thế nào ạ ?
        - Cô biết trại cùi Di Linh ở Việt Nam chứ ?
        - Vâng, con đọc báo có nghe đến !
        - Chúa đã lấy hết sắc đẹp của những người cùi ở đó mà ban cho cô, cô hãy qua bên đó mà an ủi họ.
    Lời nói đã đánh động con tim. Chỉ từng ấy ! Cô chiêu đãi viên sau đó trút bỏ cả tương lai huy hoàng, khoác bộ áo nữ tu; sau một thời gian tập sự học hỏi, đã tình nguyện sang Việt Nam phục vụ, ngay giữa những người cùi Di Linh, để cám ơn Chúa vì đã ban cho mình sắc đẹp.

                                                        *
                                                     *    *
        
    Khi đến Bỉ, địa điểm du lịch đầu tiên mà bạn muốn ghé thăm chắc hẳn sẽ là bức tượng chú bé đứng tè nỗi tiếng, biểu tượng của thành phố Brussels.
    Nằm gần Grand Place trên đường Rue de I'Etuve 31, chú bé đứng tè ( Manneken Pis ) là một tượng đài nhỏ bằng đồng cao 61m. Đây là tác phẩm của bậc thầy điêu khắc Jérome Duquesnoy được hoàn thành vào năm 1619.
    Bức tượng có thể không được coi là một kiệt tác nghệ thuật, nhưng cách mà người dân địa phương lưu truyền các truyền thuyết về nó, cũng như những dịp lễ hội với sự góp mặt của tượng đã khiến mọi người cảm thấy vô cùng thích thú tự hào.

    Có rất nhiều câu chuyện xung quanh bức tượng này và nhiều ý kiến tranh luận về lý do bức tượng dựng nên, tuy nhiên nghe có vẻ hay nhất là câu chuyện liên quan đến tinh thần ái quốc. Chuyện kể rằng khi quân Tây Ban Nha rút khỏi Brussels, họ dự tính cho phóng hỏa đốt toàn bộ thành phố bằng một quả bộc phá có sức công phá lớn. Bỗng có một chú bé đã tè vào đường dây cháy chậm đang xì khói của quả bộc phá, dập tắt nguy cơ nổ tung gây hỏa hoạn, cứu cả thành phố Brussels không bị thiêu rụi.
    Ngày nay ta thấy ở nhiều nơi biệt thự có làm phiên bản của cậu bé Manneken Pis để trang trí cho sân vườn và hồ cá.

                                                    *
                                                 *     *



    Cả cuộc đời mình, nam diễn viên "Tể tướng Lưu gù" Lý Bảo Điền ( sinh năm 1946 ) không quay một quảng cáo nào, ngay cả khi được mời với mức thù lao lên tới 20 triệu tệ ( hơn 70 tỉ đồng VN ), ông cũng từ chối. Lý Bảo Điền nói :
    "Nếu tôi nhận lời đóng quảng cáo, người xem sẽ lẫn lộn giữa hình ảnh của nhân vật tôi đóng trong phim và hình ảnh của nhân vật của tôi trong quảng cáo, như vậy là có lỗi với nhân vật đã đem cho tôi vinh quang và hạnh phúc. Đa phần quảng cáo mời tôi đóng là quảng cáo dược phẩm.
    Tôi đã bao giờ uống những thứ thuốc ấy đâu; tôi không biết chúng có lợi, có hại thế nào. Tôi không lừa dối khán giả được, họ có thể vì tôi nên mới mua thuốc. Tôi phải xứng đáng với lòng yêu mến của họ, không thể có lỗi với họ ".

                                                        *
                                                     *    *

    Nazim Hikmat - nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ, đã từng đề nghị người bạn Abidjan Dino - là một họa sĩ nổi tiếng vẽ một bức tranh về HẠNH PHÚC.
    Anh ấy vẽ bức tranh nổi tiếng tả cảnh một gia đình nằm chật chội trên một chiếc giường không lành lặn, trong một căn phòng xác xơ và dưới mái nhà đang bị mưa dột, nhưng trên khuôn mặt của từng thành viên vẫn nở nụ cười tươi.
    Hạnh phúc không phải là không có đau khổ mà xem đau khổ như một phần của cuộc sống.


                                                        *
                                                     *    *

    Majdov là võ sĩ judo xếp hạng ba thế giới ở hạng cân 90 kg với 7 huy chương châu Âu và 3 huy chương thế giới. Anh đã giành huy chương vàng tại Giải vô địch Judo châu Âu năm 2023 và giành huy chương bạc tại giải đấu năm nay. 
    Vận động viên Judo Kitô hữu người Serbia Nemanja Majdov đã bị Liên đoàn Judo quốc tế đình chỉ thi đấu trong 5 tháng sau khi anh làm dấu Thánh Gía trong Thế vận hội Olympic Paris năm nay. 
Phát biểu với báo chí, Nemanja nói :
    - "Chúa đã ban cho tôi mọi thứ, cả cho cá nhân tôi và sự nghiệp của tôi, Người là số 1 đối với tôi, tôi tự hào về điều đó. Và điều đó sẽ không thay đổi trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Vinh quang cho Người và cảm ơn Người vì tất cả mọi thứ".



                                                        *
                                                     *    *

    Bạn có biết rằng cần gạt nước - một tính năng không thể thiếu trên ô tô hiện đại - được phát minh bởi một phụ nữ tên là Mary Anderson ? Sinh ra tại một trang trại ở Alabama vào năm 1866. Mary là một nhà phát triển bất động sản, chủ trang trại và nhà phát minh, người đã ghi dấu ấn trong lịch sử với ý tưởng sáng tạo của mình.
    Vào năm 1902, trong một ngày tuyết rơi ở thành phố New York, Mary ngồi trên xe điện và quan sát tài xế phải vất vả nhìn qua tấm kính chắn gió bị phủ đầy băng. Từ đó cô đã thiết kế một cần gạt có lò xo với lưỡi cao su, cho phép tài xế làm sạch kính từ bên trong xe. Năm 1903, phát minh này được cấp bằng sáng chế, tạo nền tảng cho cần gạt nước hiện đại như chúng ta biết ngày nay..
    Mặc dù sáng tạo của cô mang tính đột phá, nhưng Mary Anderson chưa bao giờ kiếm được lợi nhuận từ phát minh này. Đến khi cần gạt nước trở thành tiêu chuẩn trên ô tô, bằng sáng chế của cô đã hết hạn.
Tuy nhiên, ngày nay cần gạt nước là yếu tố thiết yếu để lái xe an toàn, nhấn mạnh vai trò quan trọng của sự sáng tạo và kiên trì.



                                                        *
                                                     *    *

    Mì ăn liền là phát minh của ông Momofuku Ando - Nhà sáng lập tập đoàn Nissin. Gói mì ra đời sau thế chiến thứ II ( 25.8.1958 ), khi Nhật bị tàn phá và thiếu thốn lương thực trầm trọng.
    Khung cảnh người dân Nhật Bản với người già, trẻ em nối đuôi nhau chờ mua những tô mì dưới trời đêm rét lạnh, khiến ông Momofuku Ando có ý tưởng về một loại mì có thể bảo quản về nhiệt độ thường, thưởng thức tại nhà ngay sau khi cho nước nóng vào, với giá bình dân. Ông Momofuku đã trải qua hàng loạt những thử nghiệm thất bại, trước khi thành công cho ra đời loại mì ăn liền Chicken Ramen.

    Bên cạnh mì ăn liền, Nhật Bản còn là nơi phát minh ra Karaok.
Người ta hay than phiền về việc hát Karaoke, và trách cứ người Nhật đã phát minh ra nó, để bây giờ chúng ta bị tra tấn bởi những kẻ hát không ra hát, hét không ra hét. Nhưng tôi nghĩ, về cơ bản, cả thế giới phải cám ơn người Nhật, vì chúng ta được ca hát mà không cần phải có ban nhạc hay sân khấu rềnh rang. Còn việc quấy rối xóm làng, thì chúng ta cần trách cứ nền tảng đạo đức xã hội của chúng ta mới đúng. 
    Cám ơn người Nhật đã cho chúng ta thưởng thức được nhiều hương vị của cuộc sống.


                                                        *
                                                     *    *

    Alfred Bernhard Nobel người Thụy Điển, sinh ở Stockholm ngày 21.10.1833, mất 10.12.1896. Là một nhà hóa học, một nhà kỹ nghệ tỉ phú, người phát minh ra thuốc nổ. Một buổi sáng năm 1888, Alfred Nobel đã thức giấc trong bàng hoàng : Tất cả báo chí trong ngày đều nói đến cái chết của Alfred Nobel. Thật ra, đây chỉ là một lầm lẫn. Người anh của Alfred qua đời và một ký giả đã tưởng chính là Alfred Nobel.
    Nhưng dù sao, đây cũng là dịp để Alfred Nobel đọc được cảm nghĩ mà người khác đang có về ông. Người ta không hề nhắc đến những nổ lực của ông nhằm phá vỡ những hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc và các ý thức hệ. Không ai nhắc đến những kiến tạo hòa bình của ông. Alfred Nobel buồn vô cùng về hình ảnh mà thiên hạ đang nói về ông là một "nhà kinh doanh trên sự chết chóc"; trên bom đạn, bạo lực và chiến tranh.
    Ông quyết định làm cho thế giới hiểu được lẽ sống đích thực của ông. Với quyết tâm ấy, ông ngồi xuống bàn làm việc viết ngay tức khắc chúc thư, trong đó ông để lại toàn bộ tài sản của ông để thiết lập một trong những giải thưởng lớn nhất thế giới : Đó là giải NOBEL HÒA BÌNH, nhằm tưởng thưởng tất cả những ai góp phần vào việc xây dựng hòa bình thế giới.
    Ngày nay, danh hiệu của Alfred Nobel không còn là vua của chất nổ nữa, mà là Hòa Bình. Nguyên tố hóa học Nobelium được đặt theo tên của ông.
    Có một lý tưởng để đeo đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời, là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của con người trên thế gian. Những người bất hạnh nhất phải chăng không là những người sống mà không biết tại sao mình sống, sống để làm gì và sẽ đi về đâu sau cái chết.
Bất hạnh hơn nữa là những con người chỉ xây dựng cuộc sống của mình trên những chết chóc tang thương của người khác, thế giới sẽ không bao giờ quên những Tần Thủy Hoàng, những Nero, những Hitler, những Stalin...và không biết bao nhiêu những con người ngày nay, có kẻ đang thờ trong lăng tẩm, để rồi mai ngày kẻ khác lại khai quật lên.
    Người kitô hữu là người có lý tưởng để xây dựng, có lẽ sống để đeo đuổi. Họ luôn sẵn sàng để bày tỏ cho người khác những lý lẽ về niềm tin và hy vọng của họ. Sự bày tỏ ấy, họ không viết trong một chúc thư bằng giấy mực, mà bằng cả cuộc sống chứng tá của họ.
    Khi nói về rao giảng Tin Mừng, Đức cố GH Phaolo VI đã nói như sau : "Tin Mừng trước tiên phải được công bố bằng một chứng từ. Có chứng từ khi một người kitô hay một nhóm người sống giữa nhân loại, bày tỏ được khả năng có thể cảm thông, đón tiếp, chia sẻ cuộc sống với người khác, hoặc tỏ tình liên đới với người khác trong mọi cố gắng đối với những gì là cao quí và thiện hảo. Có chứng từ khi những người kitô chiếu rọi một cách đơn sơ và bộc phát niềm tin của họ vào những giá trị vượt lên trên những giá trị thông thường và bày tỏ niềm hy vọng của họ vào một cái gì mà người ta không thấy hoặc không dám mơ ước. Với chứng từ không lời ấy, người kitô làm dấy lên trong tâm hồn của những ai đang thấy họ sống, những câu hỏi mà con người không thể né tránh được. Đó là : Tại sao họ sống như thế ? Điều gì hoặc ai là người thúc đẩy họ sống như thế ? Tại sao họ sống như thế giữa chúng ta ?"
    Đâu là chúc thư chúng ta muốn để lại cho hậu thế ? Đâu là lời biện minh của chúng ta trước mặt người đời nếu không phải là một cuộc sống chứng từ cho Nước Trời.

                                                        *
                                                     *    *


    Đức GH Phanxico, người đứng đầu khoảng 1,4 tỉ tín hữu Công giáo trên toàn thế giới, đã làm một cử chỉ giản dị nhưng đầy ý nghĩa khi quyết định ngồi trong khoang hạng phổ thông của một chuyến bay thương mại về Vatican sau chuyến Tông du kéo dài gần hai tuần tại Đông Nam Á vào tháng 9 năm 2024. Hành động này không chỉ thể hiện tính khiêm tốn và gần gũi của Ngài với dân chúng, mà còn là một biểu tượng của sự bình dị trong lãnh đạo tôn giáo.



                                                        *
                                                     *    *

    Nguyễn Khắc Trường sinh năm 1946, tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên; mất ngày 02.10. 2024. Ông là một nhà văn nỗi tiếng, ông được biết đến nhiều với tác phẩm "Mảnh đất lắm người nhiều ma", được nhà nước VN trao tặng gải thưởng Văn học Nghệ thuật vào năm 2007. Ông từng là Phó GĐ - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Ông là người có cuộc sống bằng lặng với gia đình, con cái, đứng ngoài tất thảy mọi ồn ào, mọi đua chen với thời cuộc, lặng lẽ làm đúng phận sự của mình.
    Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn VN đánh giá "Mảnh đất lắm người nhiều ma" là một tác phẩm đóng đinh vào nền văn học VN đương đại. Những gì ông viết trong tiểu thuyết này "giống như một lời tiên tri về một thế giới chúng ta đang sống. Một thế giới người và ma lẫn lộn. Ma hiện hình trong cả những nơi chúng ta không hề nghĩ tới".
    Trong ký ức của ông Thiều, nhà văn là một người sống giản dị, trung thực; người ta không tìm được những lời hoa mỹ, sáo mòn của ông trong cuộc sống hằng ngày. Đúng sai, hay dở luôn rành mạch trong con người ông. "Giờ ông đã rời khỏi mảnh đất lắm người nhiều ma mà ông từng đau đớn, nổi giận và cảnh báo về một tương lai buồn của nó".


                                                        *
                                                     *    *

    Nhiều năm trước, nhà nhân chủng học Margaret Mead được một sinh viên hỏi về dấu hiệu đầu tiên của nền văn minh trong một nền văn hóa. Mead cho rằng dấu hiệu đầu tiên của văn minh trong một nền văn hóa cổ đại là một chiếc xương đùi bị gãy và sau đó đã lành, Mead giải thích rằng : Bạn không thể chạy trốn khỏi nguy hiểm, không thể đến sông đến suối để uống nước hoặc săn mồi. Bạn trở thành mồi cho các loài thú săn mồi. Không có động vật nào sống sót sau khi bị gãy chân đủ lâu để xương có thể lành lại.
    Một chiếc xương đùi bị gãy mà đã lành là bằng chứng cho thấy ai đó đã dành thời gian ở lại với người bị ngã, đã băng bó vết thương, đã mang người đó đến nơi an toàn và đã chăm sóc người đó qua quá trình hồi phục. Mead nói rằng giúp đỡ người khác vượt qua khó khăn là nơi nền văn minh bắt đầu. Chúng ta trở nên tốt nhất khi phục vụ người khác. ( Nguồn : Ira Byock ).


                                                        *
                                                     *    *


    Ông Wiliam Golding sinh 19.9.1911, mất 19.6.1993 tại Vương quốc Anh, ông đã giành giải Nobel Văn chương năm 1983.
    Wiliam Golding, những lời khen ngợi phụ nữ của ông, ông đã viết cách đây rất lâu, nhưng đối với "phái đẹp" lúc nào cũng mới mẻ, cũng là lời động viên, cổ vũ mạnh mẽ vô cùng :
    "Tôi nghĩ phụ nữ thật ngốc khi họ cho rằng họ bình đẳng với đàn ông. Thực ra họ luôn luôn là người vĩ đại hơn. Bất cứ cái gì đưa cho phụ nữ, họ cũng sẽ tạo ra những giá trị cao hơn. Khi bạn đưa cho họ một căn nhà, họ sẽ tạo ra một tổ ấm. Nếu bạn đưa cho họ thực phẩm, họ sẽ tạo cho bạn một bữa ăn ngon. Nếu bạn tặng cho họ nụ cười, họ sẽ tặng bạn trái tim yêu. Phụ nữ luôn nhân lên, tạo ra những giá trị lớn hơn bất cứ thứ gì bạn trao cho họ. Nhưng nếu bạn trao cho họ những thứ bẩn thỉu thì hãy coi chừng, bạn sẽ nhận lại trái đắng đấy".


                                                        *
                                                     *    *

    Marie Curie là người phụ nữ đầu tiên nhận giải Nobel, và bà cũng là người duy nhất được trao giải này hai lần. Bà là nữ giáo sư đầu tiên nhiều năm giảng dạy tại Sorbonne. Sau này, khi không còn có thể ăn mừng giải thưởng của mình, bà đã trở thành người phụ nữ đầu tiên được chấp nhận vào Panthéon, lăng mộ tráng lệ dành cho những vĩ nhân của Pháp, mặc dù bà không phải là nam giới và đã sinh ra, lớn lên tại Ba Lan.
    Cuối thế kỷ 19, Marie Sklodowska và chồng bà, Pierre Curie, đã phát hiện một chất phát ra bức xạ mạnh gấp 400 lần uranium. Họ đặt tên cho nó là polonium, nhằm tôn vinh quê hương của Marie. Không lâu sau đó, họ đã tạo ra thuật ngữ "phóng xạ" và bắt đầu các thí nghiệm với radium, chất mạnh gấp 3000 lần với uranium. Cả hai đã cùng nhau nhận giải Nobel cho những đóng góp của mình.
Pierre đã từng nghi ngờ : Liệu họ có đang mang đến một món quà từ thiên đàng hay địa ngục ? Trong một hội nghị ở Stockolm, ông đã cảnh báo rằng trường hợp của Alfred Nobel, người sáng chế ra thuốc nổ, là một ví dụ điển hình : "Các loại thuốc nổ mạnh đã cho phép nhân loại thực hiện những công trình đáng ngưỡng mộ. Nhưng chúng cũng là một phương tiện tàn phá đáng sợ trong tay những kẻ tội phạm lớn, những người kéo mọi người vào chiến tranh".
    Chẳng bao lâu sau, Pierre đã bị một chiếc xe chở bốn tấn trang thiết bị quân sự tông chết. Marie đã sống sót sau ông, nhưng cơ thể bà đã phải trả giá cho những thành công của họ. Bức xạ đã gây ra bỏng, vết thương và cơn đau dữ dội, cho đến khi bà cuối cùng qua đời vì thiếu máu ác tính.


                                                        *
                                                     *    *

    Ở một số nước Bắc Âu, trong tiệc cưới nếu có vỡ ly chén, người ta đều vui vẻ đồng loạt vỗ tay lên và xem đó như một chuyện bình thường xảy ra, chẳng có gì gọi là trái khuấy như người Á đông thường nghĩ ngợi. Ở Nhật Bản khi một cái bát nứt vỡ, họ dùng vàng gắn lại những mảnh vỡ để tạo thành một tác phẩm nghệ thuật mới.
    Người Nhật tin rằng, một thứ gì đó từng bị tổn thương và mang trong mình một lịch sử, nó sẽ đẹp hơn. Vì thế, thay vì vứt một cái bát vỡ đi, họ sẽ gắn lại những mảnh vỡ bằng vàng. Thay vì tìm cách che dấu đi những vết nứt vỡ, họ dùng vàng để làm chúng nổi bật lên như một cách để ca tụng và biến chúng thành điểm nhấn của cả chiếc bát.
    Con người cũng vậy. Tất cả những khó khăn, thương tổn bạn đã hoặc đang phải trải qua không làm cho bạn xấu xí hơn. Bạn có quyền lựa chọn để sơn lên những thương tổn ấy một lớp vàng. Bạn hoàn toàn có thể vực mình dậy và rút ra bài học từ những vấp váp để trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình.
    Bạn hoàn toàn có thể tự hào về những vết sẹo từ những vết thương của mình và nói rằng : "Hãy nhìn những gì tôi đã trải qua. Nhờ chúng mà tôi trở thành tôi của ngày hôm nay. Giờ không có gì là tôi không thể vượt qua".
    Không ai có một cuộc đời hoàn hảo. "Nhân vô thập toàn" mà ! Nhưng ai cũng có thể chọn để sơn vàng lên những mảnh vỡ của cuộc đời mình. Đừng hỗ thẹn vì những gì đã xảy ra với bạn. Bạn càng phủ nhận và than vãn vì những gì đã xảy ra, chúng càng không giúp ích gì cho bạn. Ngược lại, khi bạn chấp nhận và rút ra bài học từ những đổ vỡ và gắn lại chúng bằng vàng, bạn đã biến những thứ tưởng như xấu xí, vô dụng thành những câu chuyện đẹp đẽ và đầy cảm hứng. 
    Có một câu nói rằng : "Mỗi cấp độ tiếp theo của cuộc đời đòi hỏi một phiên bản mới của bạn". Và đôi khi những mảnh vỡ là thứ cấp thiết để bạn trở thành phiên bản mới tốt đẹp hơn.
    Cuộc đời, rồi ai cũng từng làm vỡ đi một cái gì đó. Có ai đó chưa từng bị đổ vỡ nên họ đứng phán xét lúc thấy bạn làm vỡ đi thứ mình yêu thích. Sau này, khi trải qua những cảm giác tương tự, người ta cũng sẽ có cảm giác như bạn mà thôi. Hãy sống cho bản thân và tự đi đến nơi mình cảm thấy hạnh phúc, hà cớ gì phải sợ người đời chê bai, miệt thị !


                                                        *
                                                     *    *

  Cầu thủ người Pháp : Anthony Martial lần hạt Mân Côi tại đền thờ Lộ Đức.
    Hình ảnh này của anh nhận được hơn 265 ngàn lượt thích trên Instagram. Tiền đạo từng chơi cho Manchester United được biết đến là một tín hữu sùng đạo và thường cầu nguyện trước mỗi trận đấu.

                                                        *
                                                     *    *

Tại Ý, năm 1263, thành Bolsene, tronh nhà thờ Sainte Catherine, một linh mục sau khi đọc lời truyền phép đã nghi ngờ về bánh và rượu trở thành Máu và Thịt Chúa Giêsu. Tức thì máu Thánh chảy đẫm khăn thánh và khăn bàn thờ. Đức Giáo Hoàng nghe tin này, bèn ra lệnh đem khăn về để tạm tại nhà thờ Orviette. Về sau xây nhà thờ rộng rãi để kính khăn thánh này.
Ngày 8.9.1264, Đức GH Urbano IV ( 1262 - 1268 ) đã ban hành tự sắc Transiturus, thành lập Lễ kính Mình Thánh Chúa Giêsu, cử hành vào sau tuần bát nhật của Lễ Hiện xuống. Thánh Thomas Aquino đã sáng tác nhiều bài hát vào dịp lễ này : Lauda sion, Pange lingua, Adoro Te và các kinh : Sacris Solemniis, Verbum Supernum... dịp lễ này có kiệu Mình Thánh Chúa ra đường phố.


                                                        *
                                                     *    *


Halloween có nguồn gốc từ thuật ngữ All Hallows' Eve, có nghĩa là buổi chiều áp ngày Lễ Các Thánh ( còn gọi là Lễ Vọng các Thánh ).
Lễ hội Halloween có nguồn gốc xa xưa bên Âu châu, do các tín hữu Kitô giáo khởi xướng trong bối cảnh Giáo Hội chuẩn bị mừng Lễ các Thánh.
     - 31/10 : Đêm Vọng các Thánh.
    - 01/11 : Mừng kính tất cả các Thánh nam nữ đang hưởng Sự sống Vĩnh cửu.
    - 02/11 : Cầu nguyện cho tất cả tín hữu đã qua đời và đang được thanh luyện trước khi được hưởng Sự sống Vĩnh cửu. Hội Thánh Công giáo dành trọn tháng 11 hằng năm để cầu nguyện cách đặc biệt cho các tín hữu đã qua đời.
Halloween không phải lễ hội ma quỷ. Rất tiếc, ngày nay người ta thường dễ đồng hóa và người ta thường tạo ra những hình ảnh rùng rợn, phản cảm.


                                                        *
                                                     *    *

Giò quẩy là món ăn do người Tàu sáng chế ra, món này xuất hiện từ thời Nam Tống.
Bấy giờ cả thiên hạ nghiến răng căm giận vợ chồng tên tể tướng mọt nước hại dân là Tần Cối và Vương Thị. Một người thợ làm bánh trong thành Lâm An đã dùng bột, nặn thành 2 người dính vào nhau rồi đem bỏ vào vạc dầu.
Tượng trưng cho vợ chồng Tần Cối - Vương Thị phải chịu hình phạt vạc dầu, bị cả thiên hạ nhai ngấu nghiến, hết đời này đến đời khác, tới nay đã hơn một ngàn năm.
Ban đầu gọi tên bánh là Du tạc quỷ, truyền sang ta gọi là quẩy. Giò quẩy có hai loại, một giòn một dai.
Người Trung Hoa xưa có tục ăn thịt người, nên mới chế ra món ấy. Người Việt không có tục đó, song sự căm giận lũ quỷ quan, quỷ tướng...thì đời nào cũng có.
Tượng bằng gang của vợ chồng Tần Cối - Vương Thị, quỳ tạ tội bên mộ Nhạc Phi ở bờ hồ Tây Hồ - Hàng Châu.

                                                        *
                                                     *    *

Charlie Chaplin đã từng nói :
"Bạn sẽ biết cách sống khi, dù sống trong thế giới phức tạp này, bạn vẫn đơn giản; dù sống trong thế giới bất công, bạn vẫn công bằng; dù sống trong thế giới không trung thực này, bạn vẫn trung thực...
Nhưng trên tất cả, bạn biết cách sống khi, trong thế giới vô tình này, bạn vẫn có thể yêu thương".
( Nguồn : Histoire de vie ).
Charlie Chaplin sinh 16.4.1889 tại Luân Đôn, Vương quốc Anh; mất 25.12.1977 tại Thụy Sĩ. Ông từng sống trong trại tế bần từ năm lên 4 tuổi. Vợ là Oona O'Neill, kết hôn năm 1943, mất 1977. Những bi kịch xảy ra trong đời tư của " Vua hề Sác-lô" được kể lại trong bộ phim tài liệu "The Real Charlie Chaplin". 
Danh hài kể rằng : "Khi tôi còn nhỏ, có lần tôi đi xem xiếc với cha. Chúng tôi xếp hàng mua vé. Xếp hàng trước chúng tôi là một gia đình nghèo có 6 đứa trẻ, tụi nhỏ rất vui khi nói về gánh xiếc. Tới lượt bố chúng đến quầy hỏi giá vé, người cha thì thầm vào tai vợ với vẻ ngại ngùng. Tôi thấy cha tôi lấy 20 dollars trong túi, ném xuống đất, rồi cúi xuống nhặt lên, đặt tay lên vai người đàn ông và nói : "Tiền của ông rơi xuống đây". Người đàn ông nhìn cha tôi và nói với ánh mắt rơm rớm : "Cám ơn Ngài !"
Sau khi họ bước vào rạp, cha tôi nắm tay tôi ra khỏi hàng vì ông chỉ có 20 dollars mà ông đã đưa cho người đàn ông kia. Kể từ đó tôi tự hào về cha. Tình huống này là chương trình đẹp nhất mà tôi từng xem trong đời."

                                                        *
                                                     *    *

Mới đây, chương trình "Ai Là Triệu Phú" đã đưa ra một câu hỏi cho người chơi với nội dung liên quan đến Truyện Kiều. Cụ thể như sau : "Trong Truyện Kiều, nhân vật Thúy Kiều mang họ gì ?" Bốn lựa chọn dành cho người chơi là : Họ Nguyễn, họ Vương, họ Lê và họ Trần. Dù Truyện Kiều vô cùng phổ biến, nhưng thực tế thì lại có không ít người không trả lời được.
Trong phần mở đầu Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã cho chúng ta câu trả lời thông qua đoạn thơ sau :
            "Có nhà viên ngoại họ Vương,
            Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung
            Một trai con thứ tốt lòng,
            Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia
            Đầu lòng hai ả Tố nga
            Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân..."

Theo đó, Thúy Kiều là chị cả trong gia đình họ Vương, dưới nàng có em gái Thúy Vân và em trai Vương Quan. Như vậy, tên đầy đủ của nàng chính là Vương Thúy Kiều. Nàng sở hữu nhan sắc xinh đẹp sắc sảo, vóc dáng thanh thoát, "cầm kỳ thi họa" đều thông thạo. Thế nhưng, người con gái tài năng đó lại có cuộc đời gian truân, phải lưu lạc suốt hơn 15 năm với biết bao tủi nhục, bất công.

                                                        *
                                                     *    *

Theo truyền thuyết cây cà phê được tìm thấy tại cao nguyên Ethiopia vào khoảng năm 850, bởi một người chăn dê tên là Kaldi. Cây cà phê có nguồn gốc từ những khu rừng cổ xưa, nơi người dân bản địa phát hiện ra hạt có mùi thơm lúc rừng bị hỏa hoạn, về sau họ dùng hạt cà phê bị cháy ấy để nấu nước uống. 
Tại một ngôi làng tên là Caffa, khi người da trắng đặt chân tới đây, ban đầu người ta pha cà phê với đường, tưởng rằng đó là cách chế biến tuyệt hảo nhất. Nhưng đã có sự cố bất ngờ xảy ra :
Một buổi sáng, có một viên sĩ quan da trắng người Pháp đến quán cà phê trễ hơn thường lệ, khi đó quán đã chật ních. Chủ quán, người bản xứ, đon đả mời khách vào, sau đó vội vã vào trong pha cho vị khách này một ly cà phê. Khi nhâm nhi, viên sĩ quan cảm thấy cà phê hôm nay hình như ngon hơn mọi hôm. Ngờ ngợ có gì khác, viên sĩ quan mới nhấm nháp từng ngụm cà phê và phát hiện ra một điều kỳ lạ. Ông ta gọi chủ quán ra chất vấn :
    - Này chủ quán, hôm nay ông pha cho tôi loại cà phê đặc biệt hơn mọi hôm phải không ?
Chủ quán bối rối một lát, rồi cũng phải trả lời :
    - Dạ thưa quan lớn, có lẽ ngài lầm rồi chăng ? Cũng chỉ là loại cà phê như mọi khi thôi !
Viên sĩ quan chau mày, khẳng định :
    - Không thể nào lầm được, hương vị cà phê hôm nay khác hẳn mọi hôm đấy !
Muốn chứng minh sự thành thật của mình, chủ quán chạy vào ôm hộp cà phê ra cho viên sĩ quan đó xem. Viên sĩ quan mở hộp bốc một ít bột cà phê lên tay xoa, hít ngửi mong khám phá ra một điều gì đó mới lạ, nhưng chẳng thấy có gì khác cả.
Ông ta đứng dậy tiến vào trong quầy hàng quan sát. Bất đắc dĩ, chủ quán phải lẽo đẽo đi theo sau. Viên sĩ quan cầm từng dụng cụ pha cà phê lên xem kỹ, chợt phát hiện một chiếc corset của phụ nữ quăng trong góc. Ông ta nhăn mặt với tay cầm lấy, hất hàm hỏi chủ quán :
    - Cái này của ai ?
Gã chủ quán tái mặt, lắp bắp đáp :
    - Dạ thưa quan lớn, đó là của...của vợ con ạ !
Viên sĩ quan thấy một bên corset có bã cà phê, phía bên kia có những khoang màu nâu sẫm. Ông lên tiếng :
    - Đây là dụng cụ pha cà phê cho tôi phải không ?
Biết không chối cãi được, gã chủ quán quỳ xuống lạy rồi thú nhận :
    - Dạ, quan lớn tha lỗi cho con. Tại dụng cụ pha thiếu, con đành phải làm cách này để pha kịp phục vụ cho quan lớn đấy ạ !
    - Có phải vợ ông đang thời kỳ cho con bú phải không ?
Gã chủ quán run lẩy bẩy thưa :
    - Dạ thưa quan lớn, đúng như vậy ạ !
Viên sĩ quan nâng chiếc corset của bà chủ quán lên ngang mặt, ngắm thật kỹ và hít một hơi thật sâu. Bất ngờ, ông ta rút 50 Franc trong túi quần ra thưởng cho chủ quán, trước sự ngỡ ngàng của mọi người.
Không nói gì thêm, viên sĩ quan ra khỏi quán, bước lên xe miệng lẩm bẩm :
    - Nếu cà phê mà pha thêm một ít sữa, cà phê sẽ có hương vị thật tuyệt vời !
Kể từ đó, CÀ PHÊ SỮA chính thức ra đời .

Cà phê không chỉ là một thức uống phổ biến trên toàn thế giới, mà còn được ví như "liều thuốc sức khỏe tự nhiên", khi ngày càng có nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh các lợi ích vượt trội của nó.
Tiến sĩ Donald D. Hensrud, biên tập viên y khoa của "The Mayo Clicnic Diet" cho biết, nhiều người nghĩ cà phê có hại nhưng thực tế không phải vậy. TS Hensrud còn nhấn mạnh cà phê có một số lợi ích đáng kể cho sức khỏe như giảm nguy cơ mắc một số bệnh mãn tính và ung thư, thậm chí là trầm cảm. Cà phê được chứng minh có khả năng bảo vệ cơ thể chống lại ung thư gan và ung thư trực tràng.
Với phát hiện mới mẻ từ khoa học, người yêu cà phê hoàn toàn có thể yên tâm nhâm nhi tách cà phê của mình, khi nó mang lại những lợi ích lâu dài cho sức khỏe.
Một báo cáo mới công bố trên tạp chí "Ageing Reviews" đã tiếp tục khẳng định rằng, thói quen uống cà phê với lượng hợp lý, thường xuyên không chỉ giúp kéo dài tuổi thọ, mà còn giảm nguy cơ mắc hàng loạt bệnh nguy hiểm liên quan đến tuổi tác.
Các nhà khoa học tại ĐH Coimbra, Bồ Đào Nha, sau khi phân tích hàng trăm dữ liệu nghiên cứu đã chỉ ra rằng, uống cà phê đều đặn có thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường tuýp 2, rối loạn thần kinh và thậm chí là ung thư, cải thiện sức khỏe tinh thần, giảm nguy cơ mắc chứng trầm cảm và mất trí nhớ, những vấn đề thường gặp ở người cao tuổi. 
Theo Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, uống cà phê có tác dụng bảo vệ gan. Gan là một trong những cơ quan đảm nhiệm nhiều chức năng nhất trong cơ thể, do đó bảo vệ gan là việc hết sức cần thiết. Cà phê thúc đẩy chức năng bài tiết của gan và túi mật, giúp cơ thể loại bỏ chất thải và độc tố tốt hơn.
 Theo một nghiên cứu các nhà khoa học Anh, những người uống cà phê thường xuyên, nguy cơ mắc bệnh gan mãn tính thấp hơn. Các nhà nghiên cứu phân tích và so sánh dữ liệu giữa 384.818 người uống cà phê và 109.767 người không uống cà phê, theo dõi sức khỏe gan của họ trong khoảng thời gian 11 năm. Kết quả những người uống cà phê có nguy cơ mắc bệnh gan mãn tính thấp hơn 21%, nguy cơ mắc bện gan nhiễm mỡ thấp hơn 20%, nguy cơ tử vong vì bệnh gan mãn tính thấp hơn 49% so với những người không uống cà phê.
Một số nghiên cứu cho thấy, tiêu thụ cà phê có thể làm giảm nguy cơ ung thư tuyến giáp. Một phân tích tổng hợp năm 2020 từ 10 nghiên cứu với 379.825 người tham gia đã phát hiện rằng việc tiêu thụ cà phê ở mức vừa phải có liên quan đến việc làm giảm nguy cơ ung thư tuyến giáp. Mỗi cốc cà phê tiêu thụ thêm mỗi ngày có thể giảm 5% nguy cơ ung thư tuyến giáp ( theo Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện ĐH Y Hà Nội, ý kiến của ThS.BSNT Nguyễn Xuân Hiền ). 
Theo ThS.BSNT Nguyễn Xuân Hiền : Qua một nghiên cứu đoàn hệ trên hơn 30.000 tình nguyện viên theo dõi trong 5 năm. Kết quả cho thấy, uống dưới 2 cốc cà phê mỗi ngày có thể giảm nguy cơ suy giáp dưới lâm sàng, trong khi uống 2-4 cốc cà phê giúp giảm nồng độ TSH huyết thanh. Ngoài ra, cà phê không liên quan đến nguy cơ cường giáp hay suy giáp, cũng như không ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp.
Các nhà nghiên cứu tin rằng những tác dụng kỳ diệu của cà phê đến từ hàng trăm thành phần khác nhau, bao gồm các vi chất dinh dưỡng quan trọng như magie, kali, niacin, vitamin E, cũng như chất chống oxy hóa giúp bảo vệ tế bào; trong đó nổi bật là caffeine và axit chlorogenic. Caffeine hỗ trợ bảo vệ tim mạch và giảm nguy cơ đột quỵ, đặc biệt ở những người uống cà phê thường xuyên với liều lượng hợp lý ( Theo Livestrona ).
Cà phê được cho là làm giảm nguy cơ mắc bệnh gut bằng cách làm giảm nồng độ axit uric thông qua một số cơ chế. Cà phê có thể làm giảm nồng độ axit uric bằng cách tăng tốc độ cơ thể bài tiết axit uric.
Trong một nghiên cứu của Nhật Bản, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc tiêu thụ cà phê có mối quan hệ nghịch đảo với nồng độ axit uric. Những người uống cà phê nhiều nhất ( khoảng 5 cốc mỗi ngày ) có nồng độ axit uric thấp nhất trong số những người tham gia nghiên cứu.
Trong điều trị bệnh gut, BS thường kê thuốc ức chế xanthine oxidase. Xanthin oxidase là một loại enzyme giúp cơ thể chuyển hóa purin, nên việc ức chế enzyme có thể giúp duy trì mức axit uric ở mức thấp. Caffeine được coi là methylxanthine, do đó, nó cũng cạnh tranh và có khả năng ngăn chặn hoạt động của xanthine oxidase.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc thay đổi chế độ ăn uống của bạn có thể giúp kiểm soát các triệu chứng bệnh gut và giảm nguy cơ phát triển bệnh gut. Ăn một chế độ ăn ít purine sẽ làm giảm sản xuất axit uric, từ đó có thể làm giảm các cơn gút. Bổ sung thêm các loại trái cây như chuối, anh đào, táo... các loại hạt, là sự bổ sung tuyệt vời cho chế độ ăn uống khi bạn cần giảm axit uric. Chuối là một trong những loại trái cây tốt nhất để giảm axit uric trong máu. Chuối có hàm lượng purine thấp - một hợp chất tự nhiên phân hủy thành axit uric - khiến nó trở thành lựa chọn tốt nhất để điều trị axit uric cao. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nutrients. Theo Healthline, chuối là loại có hàm lượng purine rất thấp và hàm lượng chất xơ trong nó có thể loại bỏ axit uric khỏi cơ thể. Trong mỗi tuần ít nhất là một lần, nên có một bữa ăn sáng kết hợp giữa chuối và cà phê là loại thức uống, thì rất tốt cho cơ thể.
Ước tính có 175 triệu người Mỹ uống cà phê mỗi ngày, tức là gần 3 trong 4 người đi mua cà phê buổi sáng, uống cà phê đá để tỉnh táo vào buổi chiều, hoặc thưởng thức cà phê espresso với món tráng miệng và một quả chuối.
Axit chlorogenic, một hợp chất chống oxy hóa mạnh mẽ, đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa viêm nhiễm và giảm căng thẳng.
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến nghị, lượng cà phê lý tưởng mỗi ngày từ 2 đến 3 tách. Đây là mức tiêu thụ vừa đủ để cơ thể hấp thụ các dưỡng chất có lợi, hoàn toàn không có hại cho cơ thể, an toàn đối với hầu hết mọi người.
Nếu bạn đã bị bệnh gút, uống cà phê có thể giúp giảm nguy cơ bùng phát bệnh. Điều này là do cà phê có thể giúp làm giảm axit uric mà cơ thể bạn tạo ra, nó cũng có thể cải thiện quá trình bài tiết axit uric của cơ thể bạn. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, lợi ích dường như rõ rệt nhất khi uống cà phê thường xuyên hàng ngày, thêm một vài thìa sữa đặc vào ly cà phê của bạn có thể là một lợi ích bổ sung hơn uống với đường, vì trong vài thìa sữa đặc lượng đường vẫn ít hơn một thìa đường bạn bỏ vào ly cà phê đen để uống.
Theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ ( FDA ), người lớn có sức khỏe tốt có thể dùng 400mg caffeine mỗi ngày, tương đương 4-5 tách cà phê đã pha, uống trong khoảng thời gian từ 7h đến 11h30 là tốt nhất ( vào thời điểm này mức cortisol, một loại hormone liên quan đến sự tỉnh táo đang giảm ). Cà phê kích thích não tiết ra dopamine, chất dẫn truyền thần kinh khiến con người cảm thấy hưng phấn.
Một người không nên tiêu thụ quá 400mg caffeine mỗi ngày. Một tách hoặc gói cà phê thông thường có khoảng 70-100mg caffeine. Một người trưởng thành khỏe mạnh không nên uống hơn 4-5 tách mỗi ngày. Với phụ nữ mang thai, lượng caffeine khuyến nghị giảm xuống còn 200mg mỗi ngày để tránh nguy cơ ảnh hưởng đến thai nhi.
Không giống như tác dụng của rượu hoặc thuốc lá, người uống cà phê không gặp phải các triệu chứng nghiện hoặc có hại mà chủ yếu là cảm giác bị phụ thuộc, vì cà phê giúp tinh thần cảm thấy hưng phấn và dễ chịu.
Theo nghiên cứu từ "American Psychological Association" ( APA ), caffeine có thể làm tăng nhịp tim và kích thích hệ thần kinh trung ương, dẫn đến cảm giác hồi hộp ở những người nhạy cảm.
Caffeine có thể tồn tại trong cơ thể tới 6 giờ, làm gián đoạn chu kỳ giấc ngủ tự nhiên. Theo "National Sleep Foundation", tiêu thụ cà phê sau 3 giờ chiều có thể gây khó ngủ trong đêm.
Uống cà phê đen có thể làm giảm hấp thụ canxi, gây loãng xương. Do đó, bạn nên tiêu thụ cà phê đen một cách hợp lý và bổ sung canxi đầy đủ để có sức khỏe tổng thể tốt nhất.
Tóm lại, mỗi người nên lắng nghe cơ thể mình và điều chỉnh thói quen uống cà phê sao cho phù hợp với sức khỏe cá nhân.
( Nguồn : Internet ).


Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2024

Đức tin hay phép lạ dẫn đường ?

 

1. Phép lạ kép : x Mt 9,19-26 v Mc 5,21-43 v Lc 8,40-56.

    Ở Nhật Bản, vào tháng 3 năm 2011, một trận động đất kéo theo cả sóng thần, làm hơn 18000 người chết và mất tích. Thảm họa này người ta gọi là thảm họa kép, những người sống sót trong thảm họa được xem là phép mầu. Thời Chúa Giêsu, khi Chúa làm phép lạ cho một người cầu xin, thì trên đường đi đến nhà người ấy, lại có một người đàn bà chen lẫn trong đoàn người đông đúc cũng được Chúa ban phép lạ cho. Do đó cũng gọi là phép lạ kép, vì hai phép lạ Chúa Giêsu làm xảy ra cùng thời điểm.
     Tất cả những đau khổ của con người đều có âm hưởng mạnh mẽ dội vào tâm hồn Chúa Giêsu ( GS ). Ngài cứu chữa người này, bình phục người kia, hồi sinh người khác, đem lại phẩm giá và sự tôn trọng cho những ai đang bị loại trừ. Điều duy nhất đòi hỏi là lòng tin và sự khiêm tốn của con người, nơi quyền năng và lòng thương xót của Chúa được tỏ hiện. Đoạn Tin Mừng đề cập ở đây thuật lại phép lạ kép : x Mt 9,19-26 - Sự việc này diễn ra đối với vị kỳ mục có đứa con vừa mới qua đời, và đối với người phụ nữ đau bệnh đã lâu là một người hèn mọn trong dân. Cả hai đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân chạy đến với Chúa. Lòng tin của họ vào Thiên Chúa ( TC ) giúp họ đạt được ước muốn, được Chúa nhậm lời. Đức tin của họ dẫn đường cho phép lạ của Chúa thực hiện.
    Tin Mừng cho biết : Một ông Trưởng Hội đường tên là Gia-ia, có con gái 12 tuổi mới chết. Ông tin chắc Chúa có thể làm cho nó sống lại được, nên đến xin Chúa cứu giúp. Chúa liền đi theo ông... Dọc đường, người đàn bà mắc bệnh băng huyết thấy Chúa thì lén sờ vào gấu áo Ngài, với niềm tin sẽ được khỏi bệnh. Và bà đã khỏi bệnh thật... Khi đến nhà ông kỳ lão, Chúa thấy người ta khóc lóc ồn ào thì Ngài bảo họ lui ra, rồi Ngài cầm tay đứa bé, nó liền trỗi dậy. Người đàn bà băng huyết được khỏi bệnh và cô gái chết đi được sống lại, đều nhờ lòng tin Chúa. Điều này chứng tỏ rằng, đức tin rất cần cho con người trong ơn cứu vớt cả hồn và xác.
    Ông trưởng Hội đường có đứa con gái đã chết, chính ông xác định như thế. Khi Chúa GS nói nó không chết mà chỉ ngủ thôi thì đám đông nhạo cười Ngài. Ở đây chúng ta thấy đức tin của vị kỳ mục rất mạnh. Trước sự ra đi của đứa con, tất cả mọi phương tiện trần gian đều chào thua. Lịch sử từ trước đến nay, chưa bao giờ nói về một người đã chết được sống lại. Chính Chúa GS cũng chưa cho ai sống lại từ cõi chết, cho đến thời điểm này, về sau Chúa mới làm cho Lazarô sống lại, vậy mà ông đến với Chúa, ông nói chắc ăn như đinh đóng cột : "Xin Ngài đến đặt tay trên nó thì nó sẽ sống lại"( Mt 9,18 ) - Một sự khẳng định nói lên niềm tin của ông vào Chúa.
    Còn người đàn bà mắc bệnh loạn huyết : Bệnh bà rất nặng vì đã chữa trị suốt 12 năm mà không khỏi. Khi được nghe biết Chúa xuất hiện bà tin sẽ được khỏi : "Tôi chỉ cần sờ vào áo của Người thì tôi sẽ được cứu" ( Mt 9,20 ). Cũng là một câu nói khẳng định niềm tin, và đã xảy ra đúng như vậy. Chúa GS xác nhận cả hai trường hợp được thụ hưởng phép lạ của Chúa là nhờ vào lòng tin chắc chắn của họ. Ngài không loại trừ bất cứ hạng người nào, bất cứ giai cấp nào trong xã hội, bởi vì tất cả đều là đối tượng của Tình yêu và lòng thương xót của TC. Vị kỳ mục tìm đến với Chúa, người đàn bà len lỏi giữa đám đông để sờ vào gấu áo Ngài, theo tôi đó là hình ảnh của sự tìm kiếm mà con người nên bắt chước và không ngừng thực hiện để gặp gỡ Chúa.
Nhưng thật ra, chính TC mới là Đấng đi bước trước để đến với con người. Phép lạ đã diễn ra như một kết quả của lòng tin : "Đức tin con đã cứu chữa con", cũng chính niềm tin đã giúp con người khám phá ra phép lạ TC không ngừng thực hiện vì yêu thương con người.
Khi Chúa GS đang giảng dạy thì ông Trưởng Hội đường đến bái lạy xin Chúa cứu chữa con gái ở nhà. Chúa GS lên đường đi với ông về nhà. Quãng đường không biết bao xa, nhưng vì đám đông đi theo chen lấn, và xuất hiện một bà loạn huyết chen vào "phá đám", chưa đến nơi thì có người đến báo là con ông đã chết. Có lẽ lúc này đức tin của ông trưởng Hội đường bị đặt trước một thử thách rất lớn, bởi lẽ ra Chúa GS có thể đến sớm hơn để "bệnh nhân không chết". Thế nhưng, Chúa GS đã vội trấn an : "Ông đừng sợ, cứ vững tin"( Mc 5,36 v Lc 8,50 ). Nhờ ông vững tin mà con gái ông đã được Chúa cầm tay và gọi : "Talitha Khumi !" ( Mc 5,41 ), tức thì cô bé được hồi phục.
    TC yêu thương con người không loại trừ một ai và Ngài đã trao hiến Con Một để cứu chuộc hết thảy mọi người. Quan trọng là người ta có dám ký thác cuộc đời, vận mệnh mình vào tay TC hay không mà thôi. Và còn hơn thế nữa, những tưởng con người chạy tới cầu xin TC, nhưng không, chính TC đã đi bước trước đến với con người. Và phép lạ đã diển ra như một hệ quả của lòng tin : "Đức tin con đã cứu chữa con".
    Cũng vậy, hành trình đức tin của mỗi người chúng ta là một chặng đường dài, đôi khi còn bị gián đoạn với bao yếu tố ngoại cảnh mà chúng ta không lường trước được, thậm chí có lúc tưởng chừng như tuyệt vọng. Nhưng nếu chúng ta vững chí như ông Trưởng Hội đường trong Tin Mừng thì sẽ được cứu độ.


2. Phép lạ dành cho người ngoại giáo : 
        x Mt 15,21-28 v Mc 7,24-30.
   Đất nước nào, dân tộc nào cũng có những câu tục ngữ thể hiện những kinh nghiệm của người dân về mọi mặt, được người dân vận dụng vào đời sống, suy nghĩ và lời ăn tiếng nói hằng ngày. "Không nên lấy đồ ăn của con cái mà quăng cho chó"- Đây là câu tục ngữ của người Do Thái. Qua câu tục ngữ này thấy người Do Thái có lòng tự hào dân tộc rất lớn, vì dù sao họ cũng là dân riêng được Chúa tuyển chọn. Thế nhưng, trong câu chuyện Tin Mừng hôm nay, Chúa GS đã dùng chính câu tục ngữ đó để đối thoại với người phụ nữ xứ Canaan.
Chắc chắn Chúa biết người đàn bà này thế nào rồi, Chúa mới muốn nói như vậy. Đối với những người đàn bà khác chưa chắc Chúa đã làm thế, vì có thể có những phản ứng trái nghịch lại.
    Tin Mừng ghi lại việc Chúa GS đề cao lòng tin của người đàn bà xứ Canaan, tức là một người ngoại giáo. Một trong những điều hẳn sẽ làm chúng ta ngỡ ngàng, đó là ở Thiên quốc, chúng ta sẽ gặp gỡ những người chúng ta chưa từng quen biết, ngay cả những người chưa một lần mang danh hiệu Kitô, chưa đặt chân đến nhà thờ.
Ta phải nhìn nhận là : Thời Chúa GS có biết bao người ngoại giáo có lòng tin sâu sắc hơn cả những người Do Thái. Đứng trước bối cảnh đó, chính Chúa đã quở trách dân riêng của Ngài : "Dân này thờ Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng dạ thì lại xa Ta"( Mt 15,8 ). Thời Chúa GS có biết bao người bị loại ra khỏi xã hội, bị đặt bên lề Đền Thờ, và có lẽ cũng không hề thuộc lề luật của Môise, nhưng lại có lòng sám hối và tin tưởng sâu xa hơn. Nói với những người chỉ giữ đạo hình thức, Chúa GS cảnh cáo : "Không phải những ai nói lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu; nhưng là những kẻ thực thi ý của Cha Ta trên trời"( Mt 7,21 ). Người đàn bà Canaan có lẽ không hề biết đến lề luật Moise, nhưng đã sống niềm tin của mình một cách mãnh liệt. Lòng tin đó được thể hiện qua việc phó thác hoàn toàn vào quyền năng của Chúa GS. Trong tình thế hầu như tuyệt vọng, bà đã chạy đến với Chúa GS; sự van nài của bà cho thấy sự kiên nhẫn và lòng tin sắt đá của bà. Sự khác biệt cơ bản giữa một người có niềm tin và một người không có niềm tin, không hệ tại ở danh hiệu Kitô hay những thực hành đạo đức, mà chính là lòng tin. Tin vào sự hiện diện quyền năng của TC trong cuộc sống, tin vào tình yêu vô biên của Ngài, tin vào ý nghĩa của cuộc sống, tin vào tình người, đó là sắc thái chủ yếu của người có niềm tin : Chính trong niềm tin đó, con người gặp gỡ TC.
    Bà mẹ người Canaan có đứa con bị quỷ ám và làm khổ thân xác nó. Bà biết Chúa GS đang giảng dạy ở gần Bethania, nên đến xin Chúa chữa cho con bà. Chúa làm lơ để thử lòng bà. Rồi lại dùng câu nói sau có lồng ý của câu tục ngữ vào : "Phải để cho con cái ăn no trước đã, vì không được lấy bánh dành cho con cái mà quăng cho chó con"( Mc 7,27 ), ngụ ý từ chối. Ối za ! Sao Chúa lại dùng câu tục ngữ nhỉ ? Bà ấy chứ người khác thì dễ tủi lắm. Vì thương con và cũng vì được nghe người ta đồn về quyền năng và lòng nhân hậu của Chúa. Bà khiêm nhường nài nỉ : "Thưa Thầy, đúng vậy. Nhưng lũ chó con cũng được ăn những mụn bánh từ bàn ăn rơi xuống"( Mt 15,27 ). Xin thưa, câu nói này làm tôi nổi da gà !
    Với các Tông đồ thì hành động của bà chỉ là một sự quấy rầy, còn với Chúa GS thì Người đã dành quyền ưu tiên cho dân Israel, thế nhưng người đàn bà xứ Canaan đã lật đổ các vấn đề đó để đi thẳng tới đối tượng.
    Chính điều này đã làm cho chúng ta phải suy nghĩ.
    Người phụ nữ bất hạnh có đứa con gái đau yếu, và bà đã kêu tới Chúa GS, nhưng tiếng kêu của bà không có vẻ hiếu thắng. Bà không ý thức là mình đang nêu lên một quyền lợi. Trái lại, khi nghe Chúa bảo là Người chỉ muốn hoạt động ở Israel chứ không muốn hoạt động nơi người ngoại giáo, thì bà đã trả lời với một cung cách làm nổi bật mức độ khiêm nhường của lời cầu xin. Bà cầu xin và đặt mình ngang hàng với "đàn chó con", sống bằng những mẩu bánh vụn từ bàn rơi xuống. Bà đã gắn cho đức tin cái tính chất khiêm nhường khiến cho Chúa GS cũng phải cảm động và xiêu lòng.
    Trước sự kiên trì của người phụ nữ, Chúa GS lên tiếng "Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con" ( Mt 15,26 ), Thánh Matthêu ghi nhận câu nói này của Chúa GS gần giống với câu tục ngữ hơn - một câu nói quá xốc, một thử thách dường như quá nặng, quá khó đối với người ngoại giáo này. Nếu người mẹ xứ Armênia, chỉ hy sinh những giọt máu để cứu đứa con, thì bà mẹ Canaan lại hạ mình xuống ngang với "con chó" cũng vì đứa con. Nhưng chính lòng khiêm tốn của bà lại làm cho các Tông đồ phải ngạc nhiên : "Thưa Thầy, đúng lắm. Nhưng mà chó con cũng đáng được hưởng những mảnh vụn ở trên bàn của chủ nó rơi xuống"Trước câu trả lời đầy khiêm tốn này đã làm cho Chúa GS phải thốt lên : "Đức tin của bà mạnh thật, bà muốn sao thì được vậy"( Mt 15,28 ).
    Xét về mặt đức tin, bà mẹ đau khổ ấy đã tìm đến với Chúa, bà tin Chúa là vị ngôn sứ quyền năng và nhân hậu. Có thể một người khác nghe câu tục ngữ kia đã cảm thấy mình bị xúc phạm vì cho là mình bị khinh chê. Nhưng bà này đã phản ứng một cách rất khiêm nhường. Khiêm nhường là chìa khóa mở lòng thương xót của TC. Niềm tin của bà thật cảm động, vì bà quá khiêm tốn trước mặt Chúa. Bà chỉ ao ước nhặt từng mảnh vụn ơn thánh rơi rớt của từng người con Chúa. Bà biết mình không xứng đáng được ơn. Bà không dám nghĩ mình được tắm trong biển cả yêu thương của Chúa, nhưng chỉ cần một giọt thánh ân trong biển lòng thương xót của Chúa có thể cứu sống con của bà.
    Niềm tin của bà còn đạt tới niềm tin tưởng tuyệt đối, không gì lay chuyển nổi ! Cho dù trước thái độ xua đuổi khéo léo của các Môn đệ và sự lạnh lùng của Chúa GS. Bà không bỏ cuộc. Bà vẫn một lòng cậy trông vào Chúa đến mức độ mà Chúa phải ca tụng bà : "Đức tin của bà thật lớn lao. Bà muốn sao được vậy". Và phép lạ đã diễn ra bởi lòng tin của một người mẹ hết mình vì con.


3. Ơn Chúa trong Phép lạ và Đức tin :
    Người ta thường hay khoe phép lạ mà mình đã gặp. Điều ấy không biết có đúng với Tin Mừng của Chúa không ?
Nếu người lãnh nhận phép lạ họ biết đó là một Ơn riêng, thì họ không cần gì phải khoe khoan vì sự thật đó là một Ơn Thiêng.
Khi thực hiện một phép lạ cho ai đó, có thể là theo nhu cầu, hoặc có thể là không theo nhu cầu nhưng Chúa muốn tỏ quyền năng thì Ngài cũng làm được. Tuy nhiên, những phép lạ xảy ra thường do lòng mến, do ước muốn của một cá nhân nào đó mà Chúa động lòng thương xót thì Ngài sẽ ban cho.
    Tôi không tin những người được phép lạ rồi họ đi làm chứng, là một tương quan cộng đoàn, là điều hay điều tốt. Chỉ sợ rằng ở đời có những trò bịp bợm, có những tổ chức, cá nhân cố gắng làm, nổ lực làm bằng mọi cách để ''xâu'' mình lên. Phép lạ của Chúa hay của Mẹ cũng vậy, đâu có cần phải được la lên, hô lên, hay kể lể cho mọi người phải biết. La hét, hô hoán chỉ là hành động tự phát nhất thời khi phép lạ mới xảy ra, được xem như một phản ứng tự nhiên biểu lộ sự vui mừng của người được ơn lãnh nhận - chỉ có thế mà thôi ! Rất tiếc, hiện nay có người lại tự thần tượng hóa, tự đề cao người khác một cách quá đáng để rồi quên luôn cả quyền uy của Thiên Chúa, quyền năng của Đấng Tối Cao. Đâu đó, có Linh mục được dân chúng sùng bái như một vị Thánh sống. Họ "tự tổ chức" để được gặp gỡ, chào đón. Khi vị Linh mục ấy đến thì mọi người bâu quanh, chen nhau, xô nhau, đạp nhau, xin được đặt tay, hoặc vói lấy tay để đặt lên đầu, đưa tay để được chạm đến như chính Chúa Giêsu vậy. Dùng việc "rảy nước thánh" để chữa bệnh cho người khác. Qủa thật buồn cười ! Noi gương Thánh Gioan Tiền Hô, có lẽ ta không quên câu nói của Thánh nhân khi nói với Chúa Giêsu : "Tôi phải lu mờ đi để Ngài được nổi bật lên."( Jn 3,30 ). Không ai tự đề cao mình mà ban được phép lạ cho người khác. Cũng không có ai tự thần thánh hóa mình mà được người khác tôn trọng, nếu được tôn trọng chẳng qua là nhờ sự mù quáng của số đông mà thôi. Quần chúng không phải là hoàn toàn đúng, vì quần chúng dễ bị kích động nên họ dễ dùa theo. Cứ nhìn vào bi kịch Đức Giêsu thì ta thấy rõ : Hôm nay quần chúng lên tiếng "Hôsana, vạn tuế !", ngày mai họ trở mặt : "Đóng đinh ngay !", thậm chí có người còn hô to : "Đóng đinh hắn !", "Giết nó đi !"( x Lc 23,18 v 21 v 23 ) - Họ có thể chấp nhận tha Baraba ( tên cướp ), nhưng họ không chấp nhận tha Đức Giêsu.
    Đa số những phép lạ Chúa Giê su làm, làm cho người ta phải ngạc nhiên. Họ bảo nhau "chúng ta chưa thấy vậy bao giờ."( Mc 2,12b ). Chúa Giê su làm phép lạ cho con gái ông Gia-ia sống lại, "cha mẹ nó kinh ngạc, nhưng Người ra lệnh cho họ không được nói với ai về việc đã xảy ra."( Lc 8, 56 ). Chúa Giê su  trừ quỉ, ''Người quát mắng không cho phép chúng nói."( Mc 1, 33b v Mc 3,12 ). Chúa Giê su chữa người mắc bệnh phong, khi bệnh phong biến khỏi "Người truyền anh ta không được nói với ai."( Lc 5,14 ).Tin Mừng Matthêu còn viết : "Người nghiêm giọng đuổi anh đi ngay và bảo anh : Coi chừng, đừng nói với ai cả."( Mt 8,4 v Mc 1,43-44 ).Chúa Giê su chữa con gái bà gốc Phênixi, xứ Xyri, Chúa vào nhà mà không muốn cho ai biết.( Mc 7, 24 ). Chúa Giê su chữa người vừa điếc vừa ngọng, ''Chúa truyền bảo họ không được kể chuyện đó với ai cả."( Mc 7,36 ). Chúa Giê su chữa hai người mù, Ngài nói : "Coi chừng, đừng cho ai biết."( Mt 9,30 ) v.v...
    Kinh Thánh đã diễn tả rất đầy đủ việc Chúa Giê su làm phép lạ và ảnh hưởng như thế nào.
Tuy nhiên, vào thời ấy không có nhân vật nào đứng ra làm chứng với một chỉ định hay một bảo trợ nào cả. Không có phép lạ nào bằng phép lạ Đức Kitô Phục sinh, vì Đức Kitô Phục sinh thì mới cho chúng ta sống lại và xác tín sự sống đời sau, chúng ta được cứu thoát khỏi vực thẳm của sự chết muôn đời. Đức Kitô là hoa quả đầu mùa mở đường cho những kẻ yên giấc ngàn thu ( 1 Cr 15,20 ), nhờ thế mà ta quả quyết rằng : Ta không từ cát bụi rồi lại trở về với cát bụi. Ơn Cứu độ Thiên Chúa đã thực hiện thì con người được ơn thánh hóa và được trả lại chính mình trong ngày sau hết. Rao giảng Tin Mừng Phục sinh chính là rao giảng phép lạ, là điều cần thiết, cần làm chứng, ai ai cũng có thể làm được. 
    Bản thân người lãnh nhận phép lạ đã là một chứng nhân. Không phải ai cũng được ơn lãnh nhận phép lạ. Xin nhắc lại : Người lãnh nhận phép lạ là một Ơn riêng, điều này khó diễn tả một cách đầy đủ. Những người lãnh nhận phép lạ củng cố niềm tin cho chính bản thân họ, còn việc chia sẻ không nhất thiết phải làm một cách công khai, hay bắt buộc. Bản thân họ là một chứng nhân nên họ sống trong tin yêu và phó thác, trong tương quan cá vị, tâm tình này của họ đã có trước nên Chúa thấu hiểu họ hơn ai hết. Họ thung dung tự tại, quyết chắc về lý tưởng, về đời sống đức tin của mình nên bản thân họ không cần phải nói ra, lúc ấy họ thể hiện nhờ cách sống đơn sơ khiêm tốn.
     Đức tin cần được tập luyện. Trước hết, chúng ta có thể học hỏi Lời Chúa, tìm hiểu Phúc Âm như chúng ta đang làm trong giây phút này. Chúng ta có thể cầu nguyện riêng tư một cách có ý thức để kín múc nguồn sinh lực thiêng liêng cho đức tin của mình.
    Đời sống nội tâm, đời sống cầu nguyện là nền tảng của đời sống đức tin Kitô giáo; nhưng sau khi suy gẫm, sau khi cầu nguyện, ta phải biết diễn tả niềm tin vào đời sống. Hình ảnh ông trưởng Hội đường, người đàn bà băng huyết và người phụ nữ ngoại giáo là tấm gương để chúng ta noi theo, là cơ hội để chúng ta xét lại niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa.
    Ước gì mỗi người chúng ta đều cảm nhận tình thương của Chúa một cách thẳm sâu và sống với tâm tình đơn sơ khiêm tốn, để ơn phép lạ nhiệm mầu của Chúa được ban cho.

4. Cầu nguyện :
    Lạy Chúa GS, Chúa là vị Lương y tốt, xin Chúa cho con đừng bao giờ chối từ Chúa. Mặc dù tai con không điếc, miệng con không câm, nhưng không có Chúa chưa chắc gì con đã phát ngôn đúng. Xin Chúa mở miệng lưỡi con ra để con cao rao những lời ngợi khen Chúa.

JB.SĨ TRỌNG.
                  

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2024

Chùm thơ 80

 



EM VÀ MẸ

Cuối ngày vạt nắng xuyên qua,
Em nghiêng mái tóc mượt mà xuống hiên
Nhìn  em  thấy  cả  Mẹ  hiền,
Thương  em,  nhớ  Mẹ  trong  miền  thơ  anh.


BẰNG LÒNG

Tôi không tâm sự nhiều điều,
Cuộc đời như thế để yêu được rồi
Ngày mai trong áng mây trôi,
Gặp người  hò hẹn  vạn lời  tri ân.


DƯ ÂM

Ngài về trong ngõ hồn tôi,
Những mơ mộng đẹp bồi hồi tâm can
Dư âm để lại nhẹ nhàng,
Bao lời dạy bảo ngập tràn yêu thương.


TỰ THỨC

Sân nhà vắng bóng đèn đêm,
Vi vu tiếng gió qua rèm trước hiên
Nhớ sao những buổi ngồi thiền
Nhận nguồn nhân điện đi xuyên qua người.

JB.Sĩ Trọng.



Ngôi nhà Đức Mẹ từng ở

 Cách thị trấn miền biển Kusadasi (Thổ Nhĩ Kỳ) trên bờ tây của biển Aegea khoảng 27 km là một địa điểm linh thiêng trong các chuyến hành hương của cả tín hữu Công giáo lẫn Hồi giáo.

Nơi đây tọa lạc Meryem Ana Evi, tức “Ngôi nhà của Đức Mẹ Maria Đồng Trinh”, trên núi Koressos thuộc vùng Ephesus. Tương truyền, Đức Mẹ Maria đã được Thánh sử Gioan đưa đến cư ngụ tại ngôi nhà bằng đá này cho đến ngày Đức Mẹ lên trời.

Ngôi nhà của sự nhiệm mầu

Ngôi nhà khiêm tốn có cấu trúc toàn bằng đá, được xây dựng theo kiến trúc La Mã thời xưa, và hiện đã trở thành nhà nguyện nhỏ. Các nhà khảo cổ học giám định nơi này cho rằng hầu hết cấu trúc có niên đại từ thế kỷ VI hoặc VII, trong khi nền tảng của nó có thể còn xa hơn gấp nhiều lần, và có lẽ có niên đại từ thế kỷ thứ nhất, tức vào thời Đức Mẹ Maria còn tại thế. Theo thời gian, phần còn lại của ngôi nhà được người đời sau bổ sung, như các cảnh quan sân vườn và kiến trúc phía ngoài.

Vào mùa hè trong năm, những hàng người dài dằng dặc nối đuôi nhau đến đỉnh Koressos, chờ đợi đến lượt mình tiến vào nhà nguyện nổi tiếng. Khi bước vào, người hành hương sẽ thấy trước mặt là hai hàng ghế hai bên, nơi bạn có thể quỳ xuống và cầu nguyện. Một số người lại chọn quỳ trước bàn thờ. Trên bàn thờ có đặt một bức tượng nhỏ của Đức Mẹ Đồng Trinh, xung quanh là những đóa hoa đầy màu sắc. Thông thường, không được phép chụp ảnh bên trong nhà nguyện, trừ trường hợp đặc biệt như các chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng. Bên ngoài ngôi nhà có một “bức tường ước nguyện”, trên đó treo đầy những tờ giấy hoặc mảnh vải ghi lại những mong ước chân thành của người hành hương đến nơi này. Một đài phun nước gần đó được kể rằng có thể chữa lành bệnh tật hoặc mang lại khả năng làm mẹ cho phụ nữ.

Bức tường ước nguyện

Sự phát hiện kỳ diệu

Theo sách của tác giả người Đức Clemens Brentano (1778-1842), ngôi nhà này được phát hiện vào thế kỷ 19 theo sự mô tả trong thị kiến của Chân phước Anne Catherine Emmerich (1774-1824), nữ tu dòng thánh Augustinô ở Đức. Chân phước Emmerich từ năm 1802 cho đến khi qua đời đã mang trên người các vết thương của mão gai, và từ năm 1812, có hẳn dấu thánh trên ngực và một vết thương tương đồng với vết giáo đâm. Nhà văn Brentano, đã gặp nữ tu vào năm 1818 và túc trực bên cạnh cho đến khi bà mất vào năm 1824, ghi chép lại các thị kiến về những ngày cuối đời của Chúa Giêsu, cũng như chi tiết về cuộc đời Đức Mẹ Maria và chuyến di cư của Mẹ tới Ephesus từ khoảng 2.000 năm trước.

Nhờ vào một trong những thị kiến được ghi lại, linh mục người Pháp tên Julien Gouyet vào năm 1881 đã tìm đến ngôi nhà của Đức Mẹ Maria Đồng Trinh. Theo Wikipedia, Chân phước Emmerich từng mô tả ngôi nhà là do thánh Gioan Tông đồ đã xây dựng ở Ephesus cho Đức Maria, nơi mà Mẹ đã cư ngụ cho tới khi về với Chúa. “Đức Maria không cư ngụ ở Ephesus, nhưng ở một nơi gần đó... Nhà Đức Maria ở trên một ngọn đồi phía bên trái con đường hướng đến Jerusalem, cách Ephesus khoảng 3 giờ rưỡi. Ngọn đồi này dốc đứng về phía Ephesus.... Những đường đi bộ hẹp dẫn về phía nam tới ngọn đồi gần đỉnh của nó là một cao nguyên không bằng phẳng, đi mất khoảng nửa giờ”.

Chân phước Emmerich cũng mô tả các chi tiết khác của ngôi nhà, chẳng hạn như được xây bằng những viên đá hình chữ nhật, các cửa sổ đặt cao lên gần mái nhà bằng phẳng và ngôi nhà gồm 2 phần với nền bếp lò ở giữa ngôi nhà. Ngài còn tả thêm vị trí của các cửa ra vào, hình dạng của ống khói ... Cuốn sách liệt kê các chi tiết trên có tựa đề “The Life of the Blessed Virgin”, được xuất bản năm 1852 ở München, Đức.

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI viếng thăm ngôi nhà

Các chuyến thăm của nhiều Giáo Hoàng

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, vào năm 1896, đã làm phép cho đoàn hành hương đầu tiên đến viếng nơi này, chứng tỏ quan điểm tích cực của Giáo hội đối với ngôi nhà lịch sử tại Ephesus. Bản thân ngài cũng đích thân viếng thăm ngôi nhà. Đến thời Đức Giáo Hoàng Piô XII, vào năm 1951, dựa trên tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, đã gọi ngôi nhà của Đức Mẹ Maria Đồng Trinh là thánh địa, và Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII sau đó đã xác thực vĩnh viễn sự công nhận đó cho nơi này.

Liên tiếp nhiều Giáo Hoàng đã đến thăm địa điểm thánh thiêng của Đức Mẹ. Chân phước Phaolô VI đã tới viếng ngày 26.7.1967, sau đó là Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ngày 30.11.1979, còn Đức Bênêđictô XVI cũng theo bước những người tiền nhiệm khi đến nơi này ngày 29.11.2006 nhân chuyến tông du 4 ngày ở Thổ Nhĩ Kỳ. 

Manh mối từ Kinh Thánh

 ( x Jn 19,25-27 )

Thánh sử Gioan viết lại, Chúa Giêsu trước khi chịu khổ hình trên thập giá đã tin tưởng nhờ cậy ngài chăm sóc mẹ mình. “Đây là mẹ của con”( Jn 19,27a ), và kể từ giây phút đó, thánh Gioan đã xem Đức Maria như mẹ ruột. Sách Công vụ tông đồ sau đó đã ghi lại số phận của các thánh tông đồ sau khi Chúa Giêsu qua đời. Thánh Stêphanô bị ném đá đến chết vào năm 37. Thánh Giacôbê bị chặt đầu vào năm 42. Và những vị thánh tông đồ khác bắt đầu việc rao giảng Lời Chúa. Thánh Gioan truyền giáo tại Tiểu Á, và ngài đã đưa Đức Maria theo để bảo vệ.

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2024

Trải nghiệm sự gặp gỡ

    

    Có khi nào chúng ta đến với Chúa trong cầu nguyện mà chỉ toàn là nước mắt không ? Lúc đó chúng ta mới trải nghiệm thấm thía những  gì chúng ta muốn gặp gỡ.
    Lòng chất chứa đầy những lo âu, đau khổ, miệng không thể thốt nên lời, có rất nhiều điều muốn giải bày nhưng chẳng thể nào nói ra được. Vô tình chúng ta bị áp lực chính nơi chỗ chúng ta đứng, hoặc một nguyên nhân khách quan nào đó ngay trong chính nội tại của mình. 
    Có một sự thật đó là, ngay cả khi chúng ta không biết phải mở lời với Chúa thế nào, thì Chúa vẫn biết rõ mọi điều nơi lòng dạ chúng ta, ngay cả những sự kín nhiệm trong lòng Chúa cũng thấy được. Hãy nhớ rằng, trong Chúa chúng ta được an ủi vì Ngài hiện diện bằng Lời của Tình yêu : "Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian"( Jn 16,33b ).
    "Thầy đã thắng thế gian", nhưng chúng ta có thắng thế gian được không ? Đôi khi chúng ta quá yếu đuối, quá bi lụy...nên chúng ta không thắng nỗi thế gian, mà thế gian thì : "Mặn nhạt, chua cay lẫn ngọt bùi" - như nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng nói.

1. Đời sống Cầu nguyện :
    Đối với Chúa Giêsu ( GS ), cầu nguyện không phải là một công thức sáo mòn mà là một phần của đời sống, một sự tự do phát xuất từ con tim như những tâm sự, chuyện trò, hò hẹn để gặp gỡ Thiên Chúa ( TC ). Nếu có ai đó đến nhờ bạn chỉ giúp cho cách thức làm thế nào để được một đời sống cầu nguyện sâu sắc thì bạn sẽ trả lời thế nào ? Bạn sẽ giải thích thói quen cầu nguyện của bạn, tặng người ấy một quyển sách hay một băng đĩa dạy về cầu nguyện, hoặc giới thiệu đến một khóa hội thảo, tỉnh tâm.v.v... ? Tuy nhiên, bạn sẽ hỏi người đó có yêu mến Chúa không đã ? Tôi nghĩ, với những câu hỏi ấy, ta có thể trả lời : Hãy đơn sơ, ý mình nghĩ gì thì cầu nguyện nói ra thể ấy.
    Bài cầu nguyện chung : Mt 6,9-13 # Lc 11,1-4 được gọi là "Kinh Lạy Cha", các tín hữu khắp nơi trên thế giới "đọc" bao nhiêu thế kỷ nay. Nhiều người đã nghiên cứu phân tích bài cầu nguyện này. Để cho lời cầu nguyện của ta được hiệu nghiệm, cần chú ý hai điều : Trước hết phải nghĩ đến TC, bản chất của Ngài, sự thánh thiện, ý chỉ và vương quốc của Ngài ( Lc 11,2 ). Sau đó mới cầu xin những điều chúng ta đang thiếu thốn như thức ăn, sự tha thứ, sức lực để chống lại cám dỗ ( Lc 11,3-4 ). Sự cầu nguyện phải đặt nền trên sự ca ngợi và phục tùng Chúa. Không được như vậy thì sự cầu nguyện mất thăng bằng và do đó chẳng có hiệu quả gì.
    Sự dạy dỗ đầy quyền năng của Chúa GS về sự cầu nguyện là do đời sống cầu nguyện của Ngài. Các Môn đệ thấy Ngài cầu nguyện nên mới nghĩ rằng mình cũng cần phải cầu nguyện ( Lc 11,1a ), trước đây họ không thấy Chúa GS cầu nguyện thì chẳng bao giờ họ cầu nguyện, họ chỉ sống và làm việc theo cảm tính. Đọc các sách Phúc Âm, ta thấy nhiều lần Chúa GS nêu gương cầu nguyện : Mc1,35; Lc 6,12; Jn 17,1-24. Nếu chúng ta cảm thấy cầu nguyện khó khăn thì hãy cố gắng luyện tập mỗi ngày. Với thời gian chúng ta sẽ thấy ham thích trò chuyện với TC một cách tự nhiên.
    Chúa GS luôn hướng lòng trí đến ý chỉ của Chúa Cha nên Ngài thường xuyên cầu nguyện. Chúng ta phải dành những thì giờ nhất định trong cuộc sống bận rộn của chúng ta để dành cho sự cầu nguyện, những giây phút hẹn hò với Chúa. Đối với Chúa GS, tương giao với Cha Thánh trên trời là công việc thiết yếu nhất trên đời, nhiều khi trong một ngày làm việc vất vả tối đến Ngài phải tìm một nơi im vắng để cầu nguyện. Ai đọc Thánh Kinh cũng thấy rõ điều đó.


    2. Sự Cầu nguyện và chiêm nghiệm :
    Văn hào Kahlil Gibran người Ấn Độ viết rằng : "Không ai có thể lớn nếu Tình yêu chưa đi qua đời họ, nếu họ chưa lần nào cầu nguyện dưới chân Thần Tình ái". Vị Thần Tình ái của chúng ta là Đức GS Kitô.
    Muốn cầu nguyện có hiệu nghiệm thì hãy cầu nguyện mạnh dạn, kiên trì, hướng đến ý chỉ của TC, theo ý Chúa chứ không theo ý mình, vì chỉ có TC mới biết được những gì là tốt lành xảy ra trong hiện tại và tương lai.
    Chúa GS chỉ dạy các Môn đệ về sự cầu nguyện : Ngài dạy phải cầu nguyện mạnh dạn - Cầu nguyện mạnh dạn không có nghĩa là xin đủ các thứ viễn vông : dồi dào của cải, buôn bán phát đạt, trúng mánh phi vụ làm ăn... Trong các câu Lc 11,5-8 và Mt 6,8 v 26,42 Chúa GS dạy chỉ cầu xin những điều cần thiết thôi, đừng cầu xin cách ích kỷ theo ý riêng mình thông qua người khác để làm lợi cho mình. Đừng đưa ra một danh sách dài những nhu cầu của mình rồi bắt Chúa "cung ứng"; phải chiêm nghiệm Chúa, xem Chúa như đang hiện diện với mình. Hãy mạnh dạn cầu xin, Chúa GS dạy trong Luca 18,27 rằng : "Điều chi người ta không làm được thì TC làm được"- Mạnh dạn ở đây nghĩa là tin quyết và kiên trì ( Lc 11,9-10 ). TC có dư khả năng đáp ứng mọi nhu cầu đúng đắn của chúng ta, nhưng nếu chúng ta cầu xin điều gì vì lòng ích kỷ tham lam thì không thể gọi là cầu nguyện mạnh dạn được. Trong các câu 11-13 của Thánh ký Luca, Chúa GS giảng giải TC yêu thương ta như Cha yêu thương con vậy. Ngài thực sự yêu thương chúng ta, biết chúng ta có nhu cầu gì. Có khi chúng ta cầu xin một điều gì rất đúng đắn nhưng TC không nhậm lời vì Ngài thấy bất lợi trong tương lai, hoặc có thể TC ban cho ta một món quà khác còn quý hơn điều ta cầu xin. Đôi khi chúng ta hiểu sai rằng một vấn đề cầu xin nào đó là tốt, nhưng thật ra nó có thể là xấu. Điều cần thiết cho đời sống cầu nguyện của chúng ta là phải dành thì giờ chiêm nghiệm tình thương của TC, xin Thánh Thần soi dẫn để được hiểu biết ý chỉ của TC trong từng hoàn cảnh. Đặt đức tin vào TC yêu thương, cầu nguyện mạnh dạn và kiên trì, thì cầu nguyện của ta sẽ được nhậm lời ( Mt 17,20 ), tình yêu giữa ta và TC sẽ trở nên gắn bó thiết tha.
    TC yêu thương tất cả mọi người theo cách của Ngài, không loại trừ ai, để rồi con tim của mỗi người cảm nhận tình thương ấy mà tri ân và chúc tụng Ngài.

    3. Tâm tình :
    Lạy Chúa, xin dạy con biết sự tương giao với Ngài là nguồn sức mạnh cho con trong mọi công việc con làm. Con cảm tạ Chúa, vì Chúa luôn nghe lời con kêu cầu. Con cảm tạ Chúa vì ngày nào Chúa cũng cho con gặp gỡ Ngài.
    Lạy Chúa, con không rõ Ngài phải hướng dẫn con cách nào đi qua cuộc đời này; nhưng điều con biết chắc là qua tình thương của Ngài, Ngài sẽ đem lại cho con điều tốt nhất. Amen !

JB.SĨ TRỌNG.