Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2023

Chúa Phục Sinh - Niềm Tin yêu, Hy vọng và Bình an

     

    Ngày nay khoa học đã tiến bộ vượt bậc, nhưng việc làm cho người chết sống lại vẫn không phải là chuyện dễ làm. Chưa có một người nào chết đi mà sống lại được, chính vì thế con người ta không tin vào sự sống lại của Đức Giêsu sau khi Ngài bị đóng đinh và bị chết treo trên Thập tự giá. Các vua chúa thế gian muốn tìm thuốc trường sinh bất tử, thực tế chẳng có ai sống mãi với thời gian ! Sự sống đời này đã khó, sự sống đời sau lại khó hơn nếu con người sống thiếu lương thiện. Việc Đức Giêsu chết đi và đã sống lại mang đến cho nhân loại và lịch sử một chiều kích giá trị mới.

        1.Tin yêu và Hy vọng :
    Trong thời gian ở với các Môn đệ, có nhiều lần Chúa Giêsu đã báo trước. Thật khó tin khi nghe Chúa nói : "Hãy phá đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lạị "Đền thờ chính là thân xác của Người, nhưng lúc ấy chẳng ai hiểu được Chúa ngụ ý nói gì. Các sách Tin Mừng cũng ghi lại nhiều lần Chúa Giêsu báo trước cuộc Thương khó và sự Phục sinh của Ngài: "Con người sẽ bị nộp vào tay người ta, bị đóng đinh vào thập giá và ngày thứ ba sẽ sống lại"( x Mt 16,21 v Mc 8,31 v Lc 9,22 ). Nếu đọc kỉ ta thấy khi báo trước mầu nhiệm Phục sinh thì mầu nhiệm Thương khó Chúa nói rõ hơn, nhưng các Môn đệ lúc ấy cũng ngớ ngẩn, họ chưa hiểu được ( x Lc 18,32-33 v Mt 20,18-19 v Mc 10,33-34 ). Câu nói sau đây ta cũng thấy rằng  Chúa Giêsu dùng lối nói ẩn dụ để chỉ về việc sống lại của Ngài : "Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất mà không mục nát đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu mục nát đi, nó sẽ sinh được nhiều hạt khác"( Jn 12,24 ). Ngài còn liên hệ dấu lạ Ngôn sứ Giôna để các Môn đệ nhận biết, nhưng các ông vẫn mù tịt : "Giôna đã là một dấu lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con người sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này như vậy"( Lc 11,30 v Mt 16,4 v Mt 12,40 ).
    Chúa Kitô đã sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha - Đây là bằng chứng hùng hồn, nhờ thế mà chúng ta có niềm hy vọng vào đời sống vĩnh cửu. Không phải Chúa hiện ra một lần mà Chúa hiện ra nhiều lần với nhiều người trông thấy, có các tường thuật và nhiều nhân chứng. Thật vậy, chúng ta nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người thì chúng ta cũng nên một với Người, nhờ được sống lại như Người ( x Rm 6,4-5 ). Thánh Phaolô quả quyết : "Nếu Đức Kitô không trỗi dậy thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng... và anh em vẫn phải sống trong tội lỗi" ( 1 Cr 15,14-17 ).
    Những ai tin Chúa sống lại thì tâm hồn họ có niềm hy vọng và sự can đảm hòa quyện vào nhau, còn kẻ không tin thì tìm mọi cách chối bỏ các chứng cứ như Thượng tế Caipha và Tổng trấn Philatô xưa kia tung tin đồn xuyên tạc với ý đồ đánh mất lòng tin của con người tin vào Chúa Phục sinh ( x Mt 28,12-15 ).
    Thần Khí Thiên Chúa làm cho Chúa Giêsu sống lại, không những chấp cánh ước mơ cho nhân loại mà còn đem lại sự sống mới cho nhân loại, Thánh Phaolô quả quyết thêm : "Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết... thì Đấng ấy cũng làm cho thân xác anh em được sự sống mới"( Rm 8,11 ).
    Sự sống mới là sự sống như thế nào ? Sự sống mới là sự sống bất diệt, con người không còn phải đau khổ nữa. Nhờ tin vào Đức Kitô Phục sinh mà con người hoàn toàn không còn lo sợ. Con người biết đón nhận Thánh ý của Thiên Chúa, biết đón nhận nghịch cảnh và bình an trong mọi hoàn cảnh, tin tưởng vào sự sống đời sau chung hưởng hạnh phúc Nước Trời.
    Nguyên tổ phạm tội, cả nhân loại đi vào cõi chết. Chúa Giêsu chiến thắng tội lỗi và tử thần trả lại sự sống cho nhân loại. Mầu nhiệm Chúa Phục sinh giúp con người thoát khỏi thân phận trở về cát bụi. Chính giá trị này mà sau khi Phục sinh Chúa đã nhắc lại điều Ngài đã báo trước đây, Thánh sử Luca hai lần ghi lại : "Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình rồi mới vào trong vinh quang quang của Người sao ?". "Có lời Kinh Thánh chép rằng : Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại" ( Lc 24,26 v Lc 24,46 ) - Lời này lại càng quả quyết để các Tông đồ mạnh dạn đi Rao giảng Tin Mừng.
    Cuối cùng, để quả quyết hơn, vị Giáo Hoàng tiên khởi của Giáo Hội đã khẳng định : "Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, và ban cho Người được vinh hiển, để anh em đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa"( 1 Pr 1,21 ).

        2.Sứ điệp bình an :
Lượt đi từ Kinh Thánh :
   .Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các Môn đệ ở, các cửa đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói : "Bình an cho anh em !"( Jn 20,19 ).
   .Các ông còn đang nói thì chính Đức Giêsu đứng giữa các ông và bảo : "Bình an cho anh em !"( Lc 24,37 ).
   .Tám ngày sau, các Môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Thomas ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín, Đức Giêsu đến đứng giữa các ông và nói : "Bình an cho anh em !"( Jn 20,26 ).
   .Người lại nói với các ông : "Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em"( Jn 20,21 ).
    Thời ấy tuy không có Đại dịch nhưng các Môn đệ đã tự cách ly xã hội vì các ông sợ người Do Thái bách hại. Lúc đầu khi Chúa mới hiện ra, các Thánh Tông đồ ai cũng sợ, Chúa phán : "Bình an cho anh em", do đó sứ điệp Tin Mừng Phục sinh là sứ điệp bình an. Khi chạm đến Chúa Phục sinh rồi thì con người không còn sợ nữa. Vì vậy sứ điệp bình an rất quan trọng, có bình an thì các Tông đồ mới tiếp tục sứ mệnh của Thầy mình trao phó, mặc dù trước mắt là muôn vàn hiểm nguy. Nguy hiểm nhưng vẫn thấy bình an, bình an tâm hồn là thứ bình an lớn nhất vì biết có Thầy mình luôn ở cạnh bên, dù có chết đi nữa cũng để làm chứng cho việc Thầy mình Phục sinh.
    Bình an là đời sống nội tâm nên không sợ đau khổ, không ai có thể cướp mất được. Người Môn đệ Chúa đã quyết chắc về đời sống đức tin, họ sẵn sàng chịu đựng những đau khổ, nếu có gặp những đau khổ thì cũng xem như thông phần đau khổ với Thầy mình trong những năm tháng Thầy mình đã trải qua, "chén đắng" Thầy mình đã uống trước.
    Cảm động thay, trong những năm tháng Đại dịch, trong cảnh khốn khó có nhiều người kêu cầu cùng Chúa Phục sinh : "Lạy Chúa, xin ban bình an cho chúng con !". Có những nơi trên thế giới, từ đường phố đến công viên, bãi biển... người ta quỳ gối đưa tay và ngửa mặt lên trời để cầu nguyện. Một Thiên Chúa của họ thiêng liêng, hiện hữu, bao quát, chứ không giới hạn nơi Thánh đường.
    "Chính Chúa là bình an"( Ep 2,14 ). Bình an đến từ Thiên Chúa không như thế gian ban tặng. "Người đã đến loan Tin Mừng bình an: Bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần"( Ep 2,17 ). Đó là bình an tâm hồn, niềm vui nội tâm và tình yêu giữa thụ tạo với Đấng Tạo Hóa. Đây là quà tặng Thiên Chúa dành cho những ai đặt trọn vẹn niềm tin nơi Ngài. Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta được một niềm vui sâu xa, một sự bình an bên trong và hoàn toàn tự do.
    Bất cứ ai liên kết với Thiên Chúa người ấy đều có sự bình an đích thực. Chúng ta hãy để sự bình an  của Chúa cư ngụ trong tâm hồn để Ngài cất bỏ sự lo âu phiền muộn. Chắc hẳn mỗi người chúng ta còn nhớ lời Chúa phán gần gũi và quen thuộc : "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi và bồi dưỡng"( Mt 11,28 ). Cùng đoạn, trong Tin Mừng Matthêu, câu 30, Thánh sử ghi nhận lời Chúa Giêsu nói : "Ách Ta êm ái, gánh Ta nhẹ nhàng".
     Chúng ta cùng cầu chúc cho nhau để mỗi người đón nhận được lời chúc Bình an của Chúa Phục sinh. Hy vọng rằng bình an nội tâm sẽ là nguồn sức mạnh, động lực để mỗi người cùng với sự hiện diện của Chúa Phục sinh và với nhau, vượt qua những khó khăn thử thách trong hoàn cảnh hiện tại. Cầu chúc mọi người một mùa Phục sinh an lành, thánh thiện, ý nghĩa, đầy tin yêu và hy vọng.

        3.Chiều kích giá trị mới :
    Chúa của chúng ta đã chết và Ngài đã sống lại. Đây không phải là một mặc khải mà là một biến cố lịch sử. Sách Tin Mừng ghi rõ và Chúa cũng đã hiện ra cho nhiều người thấy. Cửa mồ bị bậc tung là một bằng chứng hùng hồn về sự sống lại của Ngài.
    Việc Chúa sống lại có một ý nghĩa lớn lao trong đời sống đức tin của người Công giáo. Nếu Chúa Giêsu chết đi mà không sống lại thì sự rao giảng của người Công giáo trở nên vô vọng và điên rồ. Nếu Chúa không Phục sinh, tôn giáo của chúng ta sẽ là một mớ lý thuyết, và người tín hữu chẳng biết đời mình sẽ đi về đâu…
    Chúa sống lại thì không bao giờ chết nữa, Ngài sống miên viễn với thời gian. Ngài mang trong mình sự sống thiêng liêng của Thiên Chúa, nên Ngài không bị cản trở của thế giới hữu hình, Ngài luôn hiện diện với chúng ta.
    Giữa cuộc đời này, chúng ta vẫn còn gặp bao thử thách gian truân, tức chúng ta vẫn luôn đối diện với Thập giá. Trước khi Phục sinh, Chúa phải trải qua Thập giá. Cái chết đau thương của Chúa là bằng chứng tình yêu, là sự hy sinh của Ngài vì tội lỗi nhân loại. Không có cái chết đau thương ấy thì chẳng có sự sống lại. Hiểu được giá trị ơn Cứu chuộc thì việc vác thập giá của ta quả là cần thiết, nhờ thế mà chúng ta cùng hưởng sự Phục sinh đích thực và trọn vẹn của Chúa sau này.
    Thật vậy, chúng ta sẽ chẳng bao giờ Phục sinh, nếu như ở đời này ta chưa có sự hy sinh cho người khác. Thập giá đòi buộc chúng ta phải đón nhận. Thân thể chúng ta, dù biết bao bệnh tật, khổ đau, khiếm khuyết …nhưng ta tin sẽ được vinh hiển, vì Chúa đã Phục sinh, Ngài đã chiến thắng quyền lực của sự dữ và tử thần. Chúa Phục sinh bởi quyền năng của Thiên Chúa, Ngài cũng cho ta sống lại bởi quyền năng của Thiên Chúa như Thánh Phaolo đã viết trong thư gởi tín hữu Corinto : 
    "Đức Kitô đã từ kẻ chết sống lại, là hoa quả đầu mùa mở đường cho những kẻ an giấc ngàn thu. Vậy sự chết bởi một người, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. Qủa thế, như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô cũng được TC cho sống. Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình : Mở đường là Đức Kitô, rồi khi Đức Kitô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người. Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quần thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao Vương quyền lại cho TC Cha"( I Cr 15,20-24 ).
    Đấng đã Phục sinh không thể nào chết được. 
Chúng ta đừng tôn thờ Ngài như một bóng ma, hay như một người cõi âm, vì khi hiện ra với các Tông đồ chính Ngài đã phán : “Thầy đây, không phải ma đâu, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy”( x Lc 24,39 ). Một số ít người công giáo chúng ta vẫn còn chưa gần gũi với Chúa như một người Cha, họ thờ Chúa theo cung cách của những người lương, có khi còn đượm mùi nhan khói nữa. Thật ra Chúa là Cha nhân từ, tất cả những gì Ngài làm là yêu thương chúng ta, yêu đến cùng ! Vì thế, Ngài muốn chúng ta luôn ở kề cận bên Ngài, như đàn con nhỏ nép mình bên Cha hiền trìu mến, bao dung.
    Hãy sống những giây phút hiện tại vì đời sống vĩnh cữu bắt đầu từ hiện tại. Chúa đặt để mỗi người một hoàn cảnh, để trong suốt hành trình cuộc sống con người biết hướng tới tương lai, hướng tới giờ phút cuối cùng của sự Phục sinh mà Thiên Chúa ban cho mỗi một người chúng ta nhờ lòng thương xót của Ngài.

            Vĩnh cửu là quê hương,
            Chúa cho ta biết đường
            Để   tìm   về   nơi   ấy.

            Nếu ai chưa nhìn thấy            
            Xin ghé đến một lần
            Gặp  Giêsu  nhân  ái,
            Cùng chuyện trò cách tân.

            Dẫu biết đầy gian truân,
            Đời vẫn mang ý nghĩa
            Yêu  Giêsu  là  thế,
            Xin chớ có ngại ngùng.

JB.SĨ TRỌNG.



Thứ Tư, 15 tháng 3, 2023

Đức Giêsu ra trước Thượng Hội đồng và bị kết án tử

 ( Lc 22,66-71 v 23,1-24 )


Khi trời vừa sáng ngoài sân,
Một đoàn Kỳ mục trong dân kéo về
Kinh sư, Thượng tế chỉnh tề
Điệu Thầy ra trước quan tòa thật đông
-"Ông phải Đấng Messia không ?"
Đó là câu hỏi vở lòng đầu tiên.
Giê su nhanh chóng đáp liền :
-"Nếu tôi có nói chẳng tin đâu mà !
Các ông muốn hỏi vậy à ?
Con Người sẽ ngự bên Cha nhân từ."
Mọi người lại quở : -"Thế ư !
Ông là Con Chúa kể từ nay sao ?"
Chúa Giê su đáp : -"Đúng nào !
Như các ông nói, hãy vào đây xem".
Toàn thể cử tọa đứng lên,
Điệu Giê su đến bên thềm Philato
Bắt đầu tố cáo xô bồ :
-"Chúng tôi đã phát giác ra tên này
Tên này xách động tiếp tay,
Ngăn dân nộp thuế cho ngài Xê-da
Lại còn xưng Đấng Messia,
Là Vua nữa đó, chớ tha tên này !"
Philato lên tiếng hỏi ngay :
-"Ông Vua  Do Thái đời này thật sao ?"
-"Chính Ngài nói đó, hay nào !"
Philato cố ý hướng vào đám đông
Có các Thượng tế ngồi trong,
Ông liền phán bảo : -"Người không tội gì !"
Nhưng rồi họ cứ xầm xì :
-"Hắn ta xúi giục dân từ Galile
Bắt đầu ở mấy vùng quê,
Dần dần lan rộng Giuđê khắp vùng."
Philato gạn hỏi xem chừng,
Nghi ngờ là Chúa dân thành Galile
Thẩm quyền Người thuộc Herode,
Nên cho áp giải quay về  nhà vua
Nhà vua đủng đỉnh sớm trưa,
Thấy Giê su đến thì ưa và mừng
Từ lâu vua cũng đã từng,
Nghe và muốn gặp, lại mong xem Người
Mong Người làm phép lạ chơi,
Hỏi nhiều câu lắm nhưng Người vẫn im
Kinh sư, Thượng tế lại nhìn,
Tìm cách tố cáo tăng thêm tội tình
Herode tỏ vẻ coi khinh,
Cùng băng thị vệ rập rình đứng sau
Họ đem áo đỏ nhuốm màu,
Khoác lên người Chúa để chào mỉa mai
Thế là chẳng nói với ai,
Nhà vua cho giải qua ngài Philato
Từ nay Tổng trấn và Vua,
Hai bên như hết hiềm thù với nhau
Giê su tiếp tục ra tòa,
Philato Tổng trấn xét và minh oan :
-"Giê su không tội rõ ràng,
Các ngươi tố cáo thấy càng vô duyên
Người này gương mặt rất hiền,
Nhà vua cũng biết, chớ nên hại Người
Vậy ta cho đánh đòn thôi,
Vào dịp lễ lớn để rồi thả ra".
Tuy nhiên, tất cả đều la :
-"Đóng đinh Thập giá ! Thả Baraba tức thì."
Miệng mồm hô : -"Giết nó đi !"
Một câu phạm thượng khắc ghi muôn đời
Philato bênh vực hết lời,
Nhưng họ một mực vẫn đòi đóng đinh
Giê su đành chịu khổ hình, 
Trên cây Thập giá Ân tình ngàn năm...

JB.Sĩ Trọng.




Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2023

Tin Mừng cho nếp sống hằng ngày


 1. Tin Mừng không dễ mừng vì đụng chạm :
    Một trong những dạy dỗ quan trọng của Chúa Giêsu ( GS ) tại Nhà hội là câu chuyện trong Phúc Âm Macco ghi lại. Ngay đến giai đoạn này, giới thẩm quyền tại Nhà hội có cái nhìn nghi ngờ mọi sự dạy dỗ của Chúa GS, nếu không muốn nói là thù nghịch. Họ không thể quên được điều Chúa đã làm khi đuổi những người buôn bán ra khỏi Đền Thờ, Ngài đã đụng chạm đến công việc làm ăn, làm hỏng mối lợi lớn mà họ đã có từ nhiều đời ( Mc 11,15-18 ). Họ đã thất bại khi tìm cách đẩy Chúa GS vào thế thủ lúc chất vấn thẩm quyền của Ngài ( Mc 11,27-33 ). Khi nêu ra ẩn dụ về người làm vườn nho ( Mc 12,1-12 ), Chúa đã đụng chạm đến xương tủy của họ, họ thừa hiểu Người đã nhắm vào họ mà kể dụ ngôn ấy ( c 12 ). Một nhóm thầy luật khác đã tìm cách gài bẫy Chúa, nhưng cũng thất bại ( Mc 12,13-17 ) và ngay cả người Saduse ( có sách phiên dịch là Xa-đốc ) cũng thế ( Mc 12,18-27 ).
    Trái với những thầy dạy luật khác đã tra vấn gài bẫy Chúa GS, ở đây, Tin Mừng Macco cho thấy một thầy dạy luật nêu câu hỏi từ tấm lòng chân thành : "Trong các điều răn, điều nào là đầu hết ?"( Mc 12,28b ). Chữ "đầu" không nhằm nói đến thứ tự ưu tiên, nhưng nhấn mạnh tầm quan trọng. Chúa GS đã trả lời ngay : "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, TC của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi...Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình"  ( Mc 12,30-31 ), Ngài dùng hai câu trong Sáng thế và Lê vi ( St 6,5 v Lv 19,18 ) và Chúa GS phán rằng : "Chẳng có điều nào khác lớn hơn các điều răn đó"( Mc 12,31b ) - Thầy dạy luật này không những khâm phục sự khôn ngoan tuyệt vời của Chúa ( c 32 ) mà còn đi bước xa hơn trong việc so sánh với của lễ toàn thiêu và hy lễ ( x Mi-chê 6,6-8 v Ô-sê 6,6 ). Không ai dám hỏi Chúa GS nữa ( c 34b ), không phải vì họ không hiểu cách trả lời lạ lùng của Ngài, nhưng vì Chúa đưa họ đến một toàn hảo mới mà họ chưa bao giờ kinh nghiệm. Chưa có ai nối hai điều này lại với nhau và tóm tắt luật pháp Chúa gọn trong hai điều tối quan trọng là "Kính Chúa và yêu người". Đến đây, Chúa GS nhìn ông bằng ánh mắt yêu thương với lời mời gọi thầy dạy luật này tiến bước xa hơn : Hãy đi trọn con đường và trở thành công dân chân chính của Nước Trời.
    Một đoạn Tin Mừng sau đây nghe cũng không dễ mừng, vì đụng chạm tới nỗi lo của con người, nhưng hoàn toàn ứng nghiệm cho bối cảnh lịch sử thế giới hôm nay, mặc dù đã được Chúa trấn an : "Chúa GS phán : Anh em hãy coi chừng, đừng để ai lừa gạt anh em, vì sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng : Chính ta đây là Kitô, và họ sẽ lừa gạt được nhiều người. Anh em sẽ nghe có giặc giã và tin đồn giặc giã; coi chừng, đừng khiếp sợ, vì những việc đó phải xảy ra, nhưng chưa phải là tận cùng. Qủa thế, dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những cơn đói kém, và những trận động đất ở nhiều nơi. Nhưng tất cả những sự việc ấy chỉ là khởi đầu những cơn đau đớn"( Mt 24,4-8 ). Cùng thời điểm này, ta thấy nhiều kẻ mạo danh Chúa tự xưng; chiến tranh xảy ra ở nhiều nước; đói kém, động đất xảy ra ở nhiều nơi...

2. Bài giảng trên núi : Mt 5,1-12.
    "Bài giảng trên núi" hay còn gọi là "Tám mối phúc thật" vì bài giảng được Chúa GS mở đầu bằng 8 phước lành, có điều là 8 phước lành này lại mang một ý nghĩa trái ngược tiêu chuẩn thế gian. Phải chăng, đây là bài giảng không phải cho dân chúng, nhưng chỉ dành riêng cho các Môn đệ của Chúa ? Matthêu ghi rõ : "Thấy đám đông, Chúa GS lên núi. Người ngồi xuống, các Môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy họ..."( Mt 5,1-2 ). Nếu vậy thì xem đây như là bài giảng dành cho những người thuộc về Nước Trời ( Xin lỗi, quan điểm cá nhân ).
    Nước Trời khác hẳn với nước trần gian, những điều mô tả người thuộc Nước Trời khó được người đời chấp nhận. Người thuộc Nước Trời nghèo khó vì họ đã học tin cậy vào chỉ một mình Thiên Chúa ( TC ), TC luôn yêu thương và bênh vực người nghèo, Ngài là hiện thân của người nghèo vì Ngài đã xuống thế trong thân phận một người nghèo và đã sống thật với tinh thần nghèo khó. Người thuộc Nước Trời than khóc khi thấy tình trạng bại hoại của thế gian và Phúc Âm bị từ chối. Người thuộc Nước Trời đói khát sự công chính vì trần gian đầy dẫy sự bất công, và họ đang trông chờ ngày mà sự công bình của Chúa ngự trị. Người thuộc Nước Trời thương xót vì họ biết rằng họ đã nhận được sự xót thương. Người thuộc Nước Trời có lòng trong sạch vì họ học biết rằng TC của họ chân thật, không bao giờ lừa dối. Người thuộc Nước Trời là người xây dựng hòa bình vì Chúa GS là sự bình an của họ. Người thuộc Nước Trời khoan dung với người bắt bớ mình vì biết rằng họ được kêu gọi không phải để sống yên hàn nhưng để trung thành với Chúa.
    Sống Nước Trời là điều khó, vì đó là con đường Thập giá. Con đường đó không đem lại những giá trị hạnh phúc theo tiêu chuẩn đời này. Con đường đó đòi sự từ bỏ lối sống an nhàn hưởng thụ. Đó là con đường nghèo khó, than khóc, nhu mì, đói khát, thương xót, trong sạch, hòa giải, bắt bớ. Đây là con đường dành cho những ai muốn thật tâm theo Chúa. Tại đây những giá trị theo tiêu chuẩn trần gian bị đảo ngược.
    Tuy nhiên, trước mặt Chúa họ là những người được phước. Đó là hạnh phúc chân chính dành cho những người bị xã hội coi là vô phước như kẻ nghèo, kẻ có tâm hồn tan nát, kẻ bị bắt bớ, kẻ bị lao tù. Đó là hạnh phúc vĩnh cửu dành cho những người sống nhu mì, trong sạch theo ý muốn TC; điều mà loài người kiêu ngạo, giả dối cho là dại dột, ngu si.
    Chúng ta - những con cái của Chúa, được kêu gọi để sống một lối sống ngược đời ! Ta được kêu gọi và tự nguyện để sống như thế, do vậy ta không phải là những nạn nhân, nhưng là những người của Nước Trời. Chúng ta được kêu gọi kiến tạo một cộng đồng những người theo Chúa, nơi đó thực sự có sự trong sạch, có sự nhu mì, có sự tha thứ, có sự chữa lành, có sự công chính; nơi đó vinh quang Nước Trời được bày tỏ.

3. Bài giảng nơi đồng bằng : Lc 6,17-49.
    Có điều lạ là trong "bài giảng nơi đồng bằng" ta bắt gặp "bài giảng trên núi" của Chúa GS mà thánh Luca ghi lại trong Tin Mừng của mình. Một chi tiết cho thấy khá rõ, Thánh Luca viết rằng : Khi tuyển chọn 12 Tông đồ xong, "Chúa GS đi xuống núi cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó có đông đủ Môn đệ của Người và đoàn lũ dân chúng từ khắp nơi...đến để nghe Người giảng"( Lc 6,17-18 ). Nhất Lãm về nội dung nhưng không nhất lãm về vị trí địa lý, vì có thể Luca nghe được bài giảng của Chúa GS từ trên núi nhưng đến khi xuống núi ông mới nhìn và viết lại. Bài giảng thành một bản dài vì chứa nhiều vấn đề cần thiết. Ở đâu cũng được, miễn là chuyển tải được thông điệp của Chúa, người viết có thể hệ thống kiến thức, sắp xếp bố cục để trình bày.
    Lời dạy của Chúa GS trong Bài giảng nơi đồng bằng ( Lc 6,17-49 ) cũng tương tự như Bài giảng trên núi, đã thu hút đông đảo người nghe. Chúa khuyên bảo mỗi con dân Ngài đem luật vàng này vào cuộc sống. Đức tin Kitô giáo không dừng lại nơi giáo lý tiêu cực của những điều cấm kỵ; nhưng là những áp dụng tích cực, những điều phải làm, phải sống bằng một tình yêu thương thật ( Lc 6,27-35 ). Tình yêu đến từ một cảm nhận sâu xa của một lòng trắc ẩn mạnh mẽ đối với người khác. Dù cho người đó đối xử tệ thế nào, xấu xa ra sao; Chúa GS thách thức từng con dân Ngài sống với một cam kết : Chỉ mong ước người đó hạnh phúc. Tình nguyện hy sinh và cam kết sống hết lòng, hết tình; quyết tâm đối xử tử tế, nhân hậu như bát nước đầy. Trong khi Khổng Tử khuyên : "Đừng làm cho người ta những gì bạn không muốn người ta làm cho mình" có tính cách tiêu cực, đừng làm; thì Chúa Cứu Thế đưa ra mạng lệnh tích cực, luật vàng trong Luca 6,31 : "Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy". Có sách dịch : "Các ngươi muốn người ta làm cho mình thế nào, hãy làm cho người ta thể ấy".
    Tuy nhiên, nếu đọc 1 Gioan 4,7-12 - Suy nghĩ một chút, chúng ta có thể đặt vấn đề : Ta kinh nghiệm tình yêu Chúa trong đời sống mình như thế nào ? Ta đã chia sẻ tình yêu đó với người khác ra sao ? Phục Truyền 6,4-5 và Xuất Hành 20,1-3 : "Trước mặt Ta, ngươi chớ có các thần khác"( c 3 ) không những là một điều răn, một mạng lệnh, mà còn là một thách thức, một mời gọi trung thành tuyệt đối, dấn thân trọn vẹn của mỗi con dân Ngài. Chúa muốn mỗi con dân Ngài nắm vững, theo gương và noi dấu chân Ngài. Chúa muốn chúng ta yêu Chúa, yêu người ( tha nhân ) và yêu chính mình. "Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em"( Lc 6,27-28 ). Chắc chắn nhiều người đã, đang và sẽ đặt câu hỏi : Làm sao thực hiện nỗi ? Đó là tiêu chuẩn của TC, điều này vượt quá tiêu chuẩn bình thường. Nhà thơ Phùng Quán từng viết : "Yêu ai cứ bảo là yêu/ Ghét ai cứ bảo là ghét/ Dù ai ngon ngọt nuông chiều/ Cũng không nói yêu thành ghét/ Dù ai cầm dao dọa giết/ Cũng không nói ghét thành yêu". Chúa bảo : "Đừng chống cự người ác"( Mt 5,39a ). Ngài còn nói thêm : "Ai vả anh má bên này, hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài thì cũng đừng cản nó lấy áo trong"( Lc 6,29 v Mt 5,39-40 ). Thế nhưng, khi Chúa bị điệu ra trước tòa Philato, một tên lính hỗn láo đã vả vào mặt Ngài, Chúa bị vả má phải không giơ má trái; ngược lại, Ngài đã to tiếng đòi hỏi công bình : "Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi ?"( Jn 18,23 ). Đòi hỏi công bình cũng là cách vạch mặt kẻ đối nghịch chứ không cần phải chống cự. Chúng ta không thể yêu kẻ thù như yêu những người thân thuộc nhất của chúng ta vì như thế là trái tự nhiên, không thể có được; tục ngữ VN có câu "Một sự nhịn chín sự lành", nhưng vẫn có người cho rằng "Một sự nhịn chín sự nhục"- đây là một trong những nguyên nhân gây nên chiến tranh; chẳng khác nào Putin và Zelenski, hai thằng, không thằng nào nhịn được thằng nào nên đã đánh nhau tơi bời, khiến dân lành phải gánh chịu tang tóc khổ đau. Tình yêu đối với kẻ thù không những là việc của trái tim, của tấm lòng, mà còn là việc của ý chí nữa. Đó là việc mà chúng ta phải quyết tâm, phải cam kết, phải nương cậy nơi Chúa; nhờ ơn Chúa, sức Chúa, và tùy thuộc Chúa từng giây phút mới thực hiện được. Tại vườn Gietsemani khi quân lính vây bắt Chúa GS, Phero đã rút gươm ra bảo vệ Thầy mình, nhưng Chúa GS lại bảo ông "Hãy tra gươm vào vỏ vì ai cầm gươm sẽ chết vì gươm". Giuda Iscarios thủ quỹ trong nhóm Mười Hai đã nhận tiền hối lộ từ tay các Thượng tế để bán đứng Thầy mình, sau đó anh ta tự thắt cổ chết, nhưng Chúa GS chẳng nói "Ai tham tiền sẽ chết vì tiền". Trong tác phẩm "Kẻ tử đạo cuối cùng" của Đào Hiếu, nhà văn mô tả những chàng trai đeo đuổi một cô gái trong một quán cà phê đèn mờ, rồi tất cả phải chết dưới tay cô ấy; đọc tác phẩm này có người cho rằng "Ai mê gái sẽ chết vì gái", thực ra Đào Hiếu muốn nói lên quan điểm của con người thời đại, của quê hương đất nước. Ước mơ, lý do và động cơ cho nếp sống Kitô hữu là gì ? Đó là để chúng ta trở nên giống Chúa GS, phản ánh tình thương, ân sủng, quyền năng siêu việt của Ngài. Chúa GS đã bằng lòng quên mình, hòa mình và bỏ mình để chết cho chúng ta ( Php 2,5-9 ). Đây chính là điểm cá biệt của đức tin Kitô giáo. Đây là điều mà mỗi chúng ta cần cầu nguyện cho nhau, khích lệ nhau học hỏi và thúc giục nhau thực hành. Người có đức tin bao giờ cũng bị thiệt thòi, chính Chúa GS đã nói : "Ai theo Ta hãy bỏ mình vác thập giá mà theo Ta"( Lc 9,23 ); Chúa là người vô tội cũng phải chịu chết treo trên thập giá.

4. Cầu nguyện : 
    Lạy Chúa, Xin Chúa giúp con từ bỏ tiêu chuẩn trần gian, sẵn sàng sống theo tiêu chuẩn Nước Trời để tìm thấy phước hạnh chân chính, trường tồn.
    Xin cho con hiểu luật Chúa là yêu thương kẻ thù để con biết yêu thương và đối xử tốt với những kẻ hoàn toàn đối nghịch với con, hầu mong hoán cải được họ.

JB.SĨ TRỌNG.

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2023

Tiếng gọi tác động tình yêu


1. Tiếng gọi để bước theo :
     a. Hai tiếng gọi :
    Vai trò và chức vụ của Gioan chấm dứt khi ông bị đi tù. Từ đó Chúa Giê su ( GS ) bắt đầu xuất hiện giữa công chúng, rao giảng sứ điệp về sự ăn năn và kêu gọi các Môn đệ theo Ngài.
    Trước hết, tiếng gọi của Chúa là tiếng gọi ăn năn. Tiếng gọi này nhắm đến quần chúng nhằm thức tỉnh họ ra khỏi cơn mê muội. Họ cần phải nhận thức tội lỗi để có thể ăn năn vì sự sáng đã đến.
    Sau tiếng gọi ăn năn là tiếng gọi làm Môn đệ. Đây là tiếng gọi dấn thân, tiếng gọi này riêng tư đến những người Chúa muốn kêu gọi. Các Môn đệ được kêu gọi phải đi theo Ngài, sống với Ngài, học nơi Ngài và làm như Ngài. Làm Môn đệ của Chúa không phải là một thời gian nào đó, nhưng đòi hỏi sự cam kết trọn đời.
    b. Sự đáp ứng :
    ĐTC Phancix đã từng nói : "Sự sống bị "hóa thạch" khi nó không mở ra với sự mới mẻ tiếng gọi của Chúa và tiếc nuối quá khứ." Đáp ứng tiếng gọi đòi hỏi sự từ bỏ tội lỗi và nếp sống cũ. Quay lưng khỏi tội lỗi và nếp sống cũ là khúc quanh quan trọng của cuộc đời. Khúc quanh đó đánh dấu bằng sự ăn năn như một thái độ và hành động thiết yếu để nhận được ân phúc. "Nước Thiên Chúa ( TC ) đã đến gần" nhưng người ta chỉ nhận được qua hành động ăn năn. Không ai có thể tái lập mối tương giao với TC mà không qua ngưỡng cửa ăn năn. Vua David được gọi là Thánh vương David vì nhà vua đã tỏ ra sám hối ăn năn.
    Rất đơn giản, Chúa GS bảo "Hãy theo Ta"- Đáp ứng lời mời gọi của Chúa là khúc quanh quan trọng trong đời sống các Môn đệ đầu tiên. Họ phải bỏ thuyền, bỏ bến, bỏ dòng sông, bỏ gia đình, bỏ nếp sống quen thuộc : bỏ cha mẹ, bỏ vợ con, bỏ nhà cửa, bỏ ruộng vườn...bắt đầu một công tác mới : đánh lưới người. Không phải vì lý do kinh tế nữa, nhưng vì lý tưởng GS. Họ không biết gì về con đường phía trước, nhưng tiếng gọi yêu thương và uy quyền của Chúa thuyết phục họ bước theo Ngài.
    c. Thách thức và hệ quả :
    Dầu tiếng gọi thức tỉnh hay tiếng gọi dấn thân, Chúa GS cũng muốn chúng ta rời chỗ hiện tại của mình đến một chỗ mới, nơi đó ta tìm thấy được sự thương xót, sự tha thứ, sự nghỉ dưỡng, sự bình an, sự sống và sự sống phong phú. Những điều này mang lại cho đời sống chúng ta một ý nghĩa. Chỗ đó chính là Chúa GS, nơi chúng ta nhìn thấy thiên đàng trên đất. Hãy đáp ứng tiếng gọi, vì "Nước TC đã đến gần !" Chúa GS không định nghĩa Nước TC, Ngài chỉ dùng những dụ ngôn để nói về Nước TCSách Giáo lý dự tòng dạy rằng : Nước TC hiện diện ở trần gian qua sự hiện diện của Chúa GS. Ước gì mỗi người đều thấy sự hiện diện của Chúa, gần gũi với Ngài và yêu mến Ngài nhiều hơn.

2.  Lời chứng và kinh nghiệm :
    Lời chứng phải phát xuất từ kinh nghiệm cá nhân. Gioan đã thấy, đã chứng kiến tận mắt, và đã làm chứng về Chúa GS : "Người là Đấng TC tuyển chọn" ( Jn 1,34b ). Lời chứng này cũng phát xuất từ kinh nghiệm riêng tư và mối liên hệ cá nhân giữa ông với Chúa. Dầu là nhân vật nổi tiếng đương thời với số môn đồ đông đảo, nhưng trong kinh nghiệm nhận biết Chúa đã khiến Gioan lui vào hậu trường để Chúa GS được tôn vinh : "Người phải nổi bật lên, còn ta phải lu mờ đi" ( Jn 3,30 ). Từ kinh nghiệm nhận biết Chúa, Gioan đã xác nhận điều mình rao giảng : "Tôi đã thấy nên xin chứng thật..." ( Jn 1,34a ). Gioan rất khiêm tốn, Gioan không tự đánh bóng mình, lời chứng của Gioan hiệu quả đến nỗi hai Môn đệ của ông đã chọn theo Chúa GS.
    Qua lời chứng của Gioan, một trong hai người theo Chúa là An-rê. Hai người này may mắn có cơ hội ở riêng với Chúa trong ngày hôm đó. Chắc chắn trong thời gian đó tuy ngắn ngủi, nhưng cũng được Chúa dạy để họ biết Chúa nhiều hơn. Cũng từ kinh nghiệm ở với Chúa GS, An-rê đi tìm anh mình là Simon để làm chứng - Đây là điều "trước hết" An-rê đã làm và làm ngay tức khắc. An-rê đã làm chứng trước hết và tức khắc cho Simon là người trong gia đình mình. Gia đình gồm những người biết rõ chúng ta hơn hết, nên cũng là nơi thử nghiệm đức tin của chúng ta mạnh mẽ hơn hết. Có người nói : "Nếu bạn có thể làm một Kitô hữu trong gia đình thì bạn có thể là Kitô hữu bất cứ nơi đâu; ngược lại nếu bạn không thể làm Kitô hữu trong gia đình, thì bạn..." Từ kinh nghiệm biết Chúa, lời chứng của An-rê đã thuyết phục được ngay anh mình là Simon theo Chúa để rồi từ đó Simon được Chúa đổi tên và trở thành một Phero vĩ đại, chính Ngài là Giáo Hoàng Tiên khởi của Hội Thánh Công Giáo.
    Lời chứng phát xuất từ kinh nghiệm nhận biết Chúa bao giờ cũng có một sức mạnh thuyết phục. Kinh nghiệm chỉ dành cho những tấm lòng biết tìm kiếm Chúa qua những thì giờ riêng với Chúa và học hỏi về Ngài. ( Mời xem thêm bài "Người giới thiệu ánh sáng" trên nhãn "Bài suy niệm 19" của Blog này ).

3. Cầu nguyện :
    Lạy Chúa, tiếng gọi của Chúa đòi hỏi con rời khỏi chỗ hiện tại. Xin giúp con nhận thức tình trạng bấp bênh, lang thang của cuộc sống gian trần, để con không luyến tiếc những giá trị tạm bợ, để bước đến một chỗ mới ổn định trong Ngài, để con tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời.
    Xin Chúa giúp con kinh nghiệm Chúa nhiều hơn để có thể làm chứng về Ngài cách hiệu quả ngay trong gia đình, nơi con đang ở và trên bình diện rộng lớn của xã hội, của họ hàng, của quê hương đất nước.

JB.SĨ TRỌNG.