Thứ Ba, 11 tháng 1, 2022

Đi từ quá khứ đau thương đến những cách tân cốt lõi


1. Thành Thánh điêu tàn :
    Hẳn là có một số Môn đồ ít khi đến Jéruselem, họ là những người Galilê, những người của cao nguyên, của đồng quê, những kẻ đánh cá. Họ biết về bờ hồ rõ hơn là thành phố, họ giống như những người miền Bắc VN mới vào Nam ( thời điểm năm 1975 ), họ giống như những người nhà quê, và lấy làm kinh ngạc trước Đền Thờ mà họ nhìn thấy.
    Đỉnh núi Sion đã được san bằng thành dải đất cao, rộng mỗi bề 300m. Đền thờ nằm ở cuối đất đó. Nó được xây bằng đá cẩm thạch trắng, dát vàng, phản chiếu lấp lánh trong ánh nắng. Chung quanh khu vực Đền Thờ có những cửa lớn như cửa Salomon và cửa Hoàng gia. Trụ đỡ những cửa này là những cây cột bằng đá cẩm thạch nguyên khối, cao 12m và to đến nỗi ba người nối tay ôm chưa xuể. Ở những góc đền thờ người ta thấy những viên đá tảng dài 7-14m và nặng hơn 100 tấn. Với kỹ thuật xây cất thời xưa, làm sao người ta có thể xẻ đá và đặt nó vào vị trí, điều đó vẫn còn trong bí mật. Vì thế, khi những người đánh cá Galilê nhìn những viên đá khổng lồ, những kiến trúc lạ lùng này thì quá kinh ngạc và đề nghị Chúa Giêsu ( GS ) chú ý xem.
    Chúa GS trả lời rằng trong tương lai cảnh tượng này sẽ không còn nữa, sẽ không còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào nữa. Chúa GS đã nói đúng, vào năm 70 SC, người La Mã tức giận vì người Do Thái nổi loạn nên đã phá tan tành thành Jérusalem và Đền Thờ. Như vậy lời tiên tri của Chúa GS trở thành sự thật theo nghĩa đen.( x Mt 24,15-19 v Mc 13,14-17 v Lc 21,20-24 ).
    Điều này nói lên rằng Chúa GS là một Tiên tri, Ngài biết con đường bạo lực chính trị chỉ đưa đến tàn diệt thôi. Dân tộc nào, quốc gia nào không theo đường lối Thiên Chúa ( TC ) là đang đi vào đại họa, đường lối riêng mình sẽ bị sụp đổ.

2. Cuộc bao vây khủng khiếp :
    Sự phong tỏa thành Jérusalem là một trong những cuộc phong tỏa kinh hoàng nhất trong cả lịch sử, "Jérusalem bị dân ngoại giày xéo cho đến khi mãn thời của dân ngoại"( Lc 21,24b ). Jérusalem là một thành phố khó đánh chiếm vì nó được xây trên một ngọn đồi và được bảo vệ bởi lòng "cuồng tín", cho nên Titus quyết định phong tỏa cho thành phố chết đói.
    Chúa GS báo trước rằng nếu thời gian phong tỏa không được thâu ngắn lại sẽ không người nào sống sót, nhưng những lời khuyên thực tiễn đó không được thi hành nên cảnh nguy khốn đã gia tăng gấp bội. Chúa GS khuyên rằng, khi ngày đó đến người ta phải chạy trốn lên núi, nhưng người ta đã không làm thế, lại ùn ùn kéo vào thành phố, vào trong các bức tường của Jérusalem. Điều đó làm gia tăng gấp trăm lần sự khủng khiếp do nạn đói của cuộc phong tỏa gây nên.
    Theo tài liệu của Josephus, sử gia Do Thái : "Nạn đói kém nuốt chửng hết nhà này đến nhà khác, gia đình này đến gia đình khác, những phòng cao đầy đàn bà và trẻ con chết đói, những con đường trong thành phố đầy xác chết người lớn tuổi. Người ta không nghe thấy ai than vãn khóc lóc trước tai vạ này, sự đói khát đã làm tê liệt mọi cảm xúc tự nhiên. Những người sắp chết nhìn những người đã chết miệng há hốc và đôi mắt khô cạn. Một sự yên lặng thăm thẳm và một màn đêm thê lương bao trùm cả thành phố... mọi người chết với đôi mắt dán chặt vào đền thờ."
    Cảnh tượng này chẳng khác gì Vũ Hán của Trung Quốc trong thời điểm xảy ra đại dịch.
    Đó là những điều Chúa GS đã cảnh báo trước. Chúng ta không bao giờ nên quên rằng chẳng những cá nhân, mà dân tộc quốc gia cũng cần đến sự khôn ngoan của Chúa. Nếu những lãnh tụ của quốc gia không được Chúa hướng dẫn, thế nào họ cũng dẫn người ta đến chỗ suy vong không những về tâm linh mà còn về thế giới hiện hữu nữa. Chúa GS không mơ mộng viễn vông, Ngài đưa ra những quy luật để một quốc gia được thịnh vượng; nếu họ bỏ qua, sẽ không tránh khỏi những tai vạ.

3. Những điều trái nghịch :
    Những cách tân cốt lõi có khi là những trái nghịch."Bấy giờ người ta sẽ nộp các ngươi trong sự hoạn nạn và giết đi, các ngươi sẽ bị mọi dân ghen ghét vì danh Ta"( Mt 24,9 ). Đây là một câu bày tỏ sự thẳng thắn của Chúa GS. Ngài không bao giờ hứa cho các Môn đồ của Ngài một con đường dễ dàng, một thời khắc yên ổn. Ngài hứa cho họ sự chết, sự đau khổ, bắt bớ. Một Hội Thánh thật sẽ luôn luôn bị bắt bớ, bao lâu Hội Thánh còn ở trong thế giới vô thần thì nó vẫn còn bị bắt bớ. Do đâu có sự khốn khó này ?
        a. Lòng tận trung mới :
     Chúa GS đòi hỏi lòng tận trung mới. Ngài nhắc đi nhắc lại rằng lòng tận trung đó phải vượt trên mọi ràng buộc trần gian. Kitô hữu là người được kêu gọi hiến dâng cho Chúa chỗ ưu tiên trong đời sống mình, do đó có thể mang lại những xung khắc với con người. "Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa"( Mt 5,11 ). Dù xung khắc mấy, Kitô hữu vẫn tận trung, luôn nhiệt thành muốn đem Chúa đến cho người khác.
        b. Tiêu chuẩn mới :
     Chúa Cứu thế mang lại một tiêu chuẩn mới. Có những tập quán và lối sống mới xem qua thì hợp lý đối với thế gian, nhưng lại không đúng khi phán đoán theo tiêu chuẩn mới của Kitô giáo. Đối với nhiều người, Kitô giáo khó khăn vì nó xét đoán bản thân họ, việc làm ăn và những quan hệ cá nhân của họ. Điều kỳ lạ về Kitô giáo là những người không muốn thay đổi thường hay chỉ trích và thù nghịch với Kitô giáo. Người tín hữu cần bộc lộ nhiều hơn để tuyên xưng đức tin, không tránh né, đây được xem là tiêu chuẩn mới, tiêu chuẩn nói lên sự trung thành, điều kiện tiên quyết phải có.
        c. Gương sáng mới :
     Một Kitô hữu thật sẽ là một gương sáng mới cho thế gian. Mỗi ngày sẽ có một vẻ đẹp trong đời sống người Kitô hữu làm lu mờ những cuộc đời theo tiêu chuẩn thế gian. Kitô giáo thật là ánh sáng thế gian, không phải trong ý nghĩa người ấy chỉ trích và lên án người khác, nhưng trong ý nghĩa người ấy bày tỏ qua đời sống mình vẻ đẹp của một đời sống được đầy dẫy chính Chúa, và vì thế đời sống của những người không có Chúa lộ ra sự xấu xa u tối và dốt nát. Ngược lại, người có Chúa mà không sống tốt, không chiếu tỏ ánh sáng của mình cho người khác thì tác hại càng lớn hơn; Chúa GS nói rõ với Kitô hữu : "Nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào !"( Mt 6,23b ).
        d. Lương tâm mới :
     Kitô giáo mang lại lương tâm mới cho cuộc đời. Cá nhân Kitô hữu hay Hội Thánh không bao giờ che dấu hay yên lặng một cách hèn nhát. Hội Thánh và tín hữu luôn luôn phản chiếu lương tâm của Kitô giáo, mà người đời thường hay muốn dập tắt tiếng nói của lương tâm - "Con cái thế gian trong sự thông công với người đồng đời mình thì khôn khéo hơn con sáng láng". Lương tâm mới mách bảo chúng ta : "Ai bảo mình yêu mến TC mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu người anh em mà mình trông thấy, thì không thể yêu mến TC mà họ không trông thấy"( 1 Jn 4,20 ). Do vậy, lương tâm mới được mặc khải ơn Cứu độ. Lương tâm mới là lương tâm biết đón nhận người khác và yêu thương họ, cho dù họ có chống đối.

4. Cầu nguyện :
    Lạy Chúa xin giúp con tin cậy Ngài, và Chúa ơi cho đồng bào con hướng về Ngài để có được một cuộc sống văn minh hơn, tươi sáng hơn, từ bỏ những tập tục mê tín lạc hậu.
    Lạy Chúa xin giúp con làm theo Lời Ngài chỉ dạy trong Kinh Thánh để con không gặp những thảm họa trong cuộc đời.
    Chúa ơi, bước đường theo Ngài không dễ khi con còn ở trong đời này, xin giúp con đi trọn đường.

P/s : Mời đọc thêm bài "Bi kịch và nét đẹp lý tính trong tình yêu" trên nhãn"Bài suy niệm 15" của Blog này.

JB.SĨ TRỌNG.

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

Tha thứ mấy cho đủ


1. Tha thứ hoán cải lòng tham :
    Luôn luôn lúc nào ta cũng biết tha thứ. Tha thứ như Chúa Giêsu ( GS ) tha thứ. Những kẻ muốn làm hại Ngài mà Ngài cũng tha thứ. Những kẻ bắt Ngài đóng đinh, muốn giết chết Ngài mà Ngài cũng tha thứ. Kẻ trộm cướp, kẻ nguyền rủa Ngài mà Ngài cũng tha thứ, không những thế Ngài còn hứa ban cho nước Thiên đàng. Phải chăng, điều này thuộc bản tính hay sao ? Chúa là người luôn luôn muốn tha thứ. Tha thứ cho kẻ khác cho dù kẻ đó có xúc phạm mình đi chăng nữa. Như thế tha thứ phải đi kèm với yêu thương. Có yêu thương thật sự thì mới tha thứ như vậy. Tình yêu ấy nằm trong bản chất cũng như cha mẹ đối với con cái. Nếu con cái hư, dù nghiêm khắc mấy để xử phạt, cha mẹ vẫn yêu thương con cái. Cha mẹ không thể nào ghét bỏ con cái. Trong tình cảm anh em, đôi khi có sự đối kháng, sứt mẻ; cha mẹ thì lúc nào cũng muốn con cái đoàn kết, yêu thương, biết đùm bọc nhau. Với Thiên Chúa ( TC ) Ngài chỉ mong chúng ta biết yêu thương và tha thứ. Đừng ganh ghét, tị hiềm. Dành giật nhau của cải vật chất làm chi. Giàu có, được cả thế gian, nhưng đến ngày nhắm mắt xuôi tay chẳng mang theo gì được. Thế nhưng, thế gian có người vẫn tham lam, lòng tham vô đáy, bao nhiêu cũng không thấy thỏa mãn, thích chiếm đoạt hết cả gia tài cha mẹ để lại, thâu tóm toàn bộ, không muốn chia sớt cho ai khác trong số những anh em ruột thịt. Lòng tham lam ích kỉ đã làm cho con người trở nên mù quáng.
    Sự mù quáng vì lòng tham đánh mất đi tình nghĩa anh em, sự mất mát ấy khó hàn gắn được. Chỉ có lòng tha thứ mới mong hoán cải người có lòng tham. Cầu xin ơn thánh hóa để cho người có lòng tham lam ích kỷ và người quảng đại cùng biết đón nhận trong nhau sự yêu thương và tha thứ lỗi lầm.
    "Nơi nào và khi nào TC thấy bạn sẵn sàng, Ngài phải hành động và tràn vào chan chứa trong bạn, cũng như khi không khí trong lành, ánh sáng mặt trời buộc phải tràn vào nó và không thể kiềm chế được" ( Meister Eckhart ).
    Tha thứ là thước đo lòng quảng đại của con người, nhờ tha thứ mà hoán cải được lòng tham của kẻ cố chấp.

2. Tha thứ và điều kiện tha thứ :
    Tha thứ không bao giờ thừa. Mặc dù khi tha thứ không cần điều kiện đáp trả, là một thứ cho đi vô điều kiện. Đây không có gì là triết lý, mà là một thực tế để sống với những giây phút thực tại, khiến tâm hồn mình được an thư hơn là nuôi dưỡng những sự vướng mắc khó giải quyết. Đúng như lời Đức cố HY.FX Nguyễn văn Thuận đã viết trong sách "Đường Hy vọng" : "Qúa lao lực có ngày sẽ bất lực, quá bận tâm có ngày mất nội tâm".
    Tôi biết viết gì thêm khi những trang viết này đang chờ đợi, vì thực tế thời gian này tôi đang bận rất nhiều việc phải thay đổi chỗ ở và lo tu sửa nhà nơi mình mới mua được. Nói như thế có mâu thuẫn lắm không ? Vợ thì đau bệnh, nhưng đầu cứ hay suy nghĩ. Tôi tranh thủ thời gian lên trang viết cá nhân hầu thổ lộ tâm tình với Chúa, cầu xin sự an bài của Chúa để thích hợp với đời sống tuổi già. Sự thật chỉ một đứa con mà nó sống xa cha mẹ, khiến cho lòng tôi không khỏi những lo âu suy nghĩ. Tôi biết tôi không thể đánh mất đời sống nội tâm, nhưng tôi vẫn tha thiết nài xin Chúa cho tôi được giữ vững. Đức Thánh Cha Phanxico nói rằng : 
    "Chúa Giêsu đưa sức mạnh của sự tha thứ vào các mối quan hệ của con người. Trong cuộc sống, không phải mọi thứ đều được giải quyết bằng công lý. Đặc biệt là ở nơi chúng ta phải đặt một rào cản trước sự ác, ai đó phải yêu thương vượt khỏi sự cần thiết hay nghĩa vụ, để bắt đầu một câu chuyện về ân sủng một lần nữa. Sự ác biết cách trả thù, và nếu chúng ta không chặn nó lại, nó có nguy cơ lây lan và làm nghẹt thở cả thế giới".
     Ta học tư tưởng này của Henri Nouwen : "Làm thế nào ta có thể tha thứ cho người không muốn được thứ tha ? Mong muốn sâu sắc nhất của chúng ta là sự tha thứ mà chúng ta tỏ ý sẽ được chấp nhận. Sự tương hỗ giữa cho và nhận này là những gì tạo ra an bình và hài hòa, nhưng nếu điều kiện để tha thứ là nó phải được chấp nhận, thế thì hiếm khi ta sẽ tha thứ ! Tha thứ cho người khác trước hết là một động thái nội tâm. Đó là một hành động loại bỏ sự tức giận, cay đắng và mong muốn trả thù từ trái tim của chúng ta và giúp chúng ta phục hồi phẩm giá con người. Không thể ép buộc người mà chúng ta muốn tha thứ chấp nhận sự tha thứ của chúng ta. Họ có thể không thể hoặc không muốn như vậy. Họ thậm chí có thể không biết hoặc cảm thấy rằng họ đã làm chúng ta bị tổn thương. Người duy nhất mà chúng ta thật sự có thể thay đổi là chính chúng ta. Tha thứ cho người khác trước hết là chữa lành trái tim của chính chúng ta"( Dựa trên bản dịch của Ha Nguyen qua fb ).
    Viết đến đây tôi cũng cảm thấy tâm đắc với chia sẻ qua fb của Người Giồng Trôm : "Tha thứ cho người nào đó nhưng trong tâm vẫn không thể vui vẻ lên, vẫn còn oán hận. Ấy là vì bạn đã quên mất một điều : Tha thứ cho chính mình".

3. Tha thứ không có giới hạn :
    Chúng ta rất quen thuộc câu chuyện sau đây trong Kinh Thánh và được nhờ rất nhiều ở tính nhạy bén của Thánh Phêrô. Ông nhanh nhẩu phát biểu và mỗi lần ông nói, lại được Chúa dạy cho một bài giáo lý bất hủ. Lần này Phêrô cho rằng ông rất rộng lượng và xử rất đẹp. Ông hỏi Chúa GS ông phải tha thứ cho anh em mình như thế nào, và ông tự trả lời câu hỏi đó bằng lời đề nghị tha thứ cho họ bảy lần, cứ tưởng như vậy là nhiều ( Mt 18,21 v Lc 17,3b-4 ). Đề nghị của Phêrô không phải là không có căn cứ. Các Rap-bi Do Thái dạy phải tha thứ cho anh em mình ba lần. Phêrô nghĩ ông đã đi rất xa khi nhân đôi số lần tha thứ của các thầy giáo-luật và còn thêm một lần nữa. Phêrô chờ mong sự ngợi khen của Chúa, không ngờ Chúa lại trả lời : "Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy"( Mt 18,22 ). Thành ngữ VN có câu : "Một sự nhịn chín sự lành". Trong tha thứ phải có sự nhường nhịn, có nhường nhịn thì con người ta mới tha thứ đượcNếu làm phép toán : 70.7.9 = 4410 sự lành - Người tín hữu Chúa phải tha thứ bảy mươi lần bảy, có nghĩa là không có giới hạn phân định cho sự tha thứ.
    Sau đó, Chúa GS kể chuyện về một tôi tớ được vua tha một món nợ lớn. Nhưng khi về nhà, anh lại đối xử tàn nhẫn với một người mắc anh một món nợ nhỏ. Anh ta đã bị lên án vì không có lòng nhân từ ( x Mt 18,23-34 ). Ví dụ này đưa ra một số bài học mà Chúa GS đã dạy dỗ nhiều lần.
    Một bài học xuyên suốt Tân Ứơc, là phải tha thứ để được thứ tha. Ai không tha thứ anh em mình thì không thể hy vọng được TC thứ tha, Chúa GS nói : "Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được TC xót thương"( Mt 5,7 ), hoặc : "Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha lỗi cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em"( Mt 6,14-15 v Lc 6,38a ). Tại sao vậy ? Một trong những điểm chính của ví dụ này là sự khác xa giữa hai món nợ. Người tôi tớ thứ nhất nợ chủ mình mười ngàn ta-lâng, đó là một món nợ khổng lồ, không thể tưởng tượng được. Người thứ hai đồng bạn chỉ mắc nợ một trăm quan tiền, thế mà anh ta cứ đè đầu kẹp cổ đòi lấy cho được ( Mt 18,28-30 ). Sự tương phản giữa hai món nợ thật lớn lao. Điểm chính để chúng ta nhìn thấy là dù chúng ta có thể làm gì cho người khác cũng không có gì đáng kể so với những điều TC đã làm cho chúng ta. Những gì chúng ta tha thứ cho người khác không thể so sánh với sự tha thứ bao dung rộng lượng của TC.
    Chúng ta đã được tha một món nợ không thể trả được, vì tội lỗi con người : Con TC phải chịu đau khổ và chịu chết một cách nhục nhã. Do vậy, chúng ta phải tha thứ người khác như TC đã tha thứ cho chúng ta, bằng không, chúng ta sẽ không được thương xót. "Hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bách hại mình"- Tha thứ gắn liền với cầu nguyện để ta dễ hòa nhập cùng TC là Đấng đã yêu thương và chết thay cho tội lỗi mình.
    TC ngọt ngào chia sẻ với chúng ta khi cầu nguyện, vì "khi hai hay ba người hợp nhau vì danh Thầy thì có Thầy ở giữa họ". Sự tha thứ đi đôi với cầu nguyện để chúng ta thấy được sự hiện diện của Chúa, từ đó mọi người trở nên gần gũi, gắn kết và quảng đại với nhau hơn. TC là Cha và mọi người là anh em với nhau.

4. Cầu nguyện :
    Lạy Chúa, xin cất khỏi con tính ích kỷ, ban cho con tấm lòng quảng đại vị tha và dạy con cầu nguyện theo ý Ngài, cho con có mối tương giao mật thiết với Chúa.
    Lạy Chúa, bài học tha thứ là bài học khó nhất trong cuộc đời, xin giúp con luôn nhớ ơn tha thứ của Chúa dành cho con và giúp con biết tha thứ cho anh em, cho người khác. Xin cho người em trai của con mau biết hoán cải, sớm nhận ra Tin Mừng Cứu độ và ơn tha thứ của Chúa.
    Xin Chúa tha thứ tất cả mọi ngông cuồng, kiêu ngạo, tội lỗi trong con và giúp con luôn có lòng hướng trọn về Chúa, tin tưởng tuyệt đối nơi Ngài.

P/s : Mời đọc thêm bài "Nợ và ơn tha thứ" trên nhãn "Z.Sưu tầm" của Blog này, gõ vào thanh tìm kiếm để dễ thấy.

JB.SĨ TRỌNG.


Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2022

Chùm thơ 69

TIẾNG TÀU CHẠY

Ai   ở   trên   lầu   mới   thấy   hay,
Khi nghe tàu lửa chạm đường ray
Tưởng rằng đất động làm rung cửa
Chó  sủa  canh  khuya,  gió  rít  dài...



 DÃ TRÀNG

Dã tràng xe cát, biển mênh mông
Sóng  vỗ  xua  tan  cát  biển  lòng
Chẳng nghĩ uổng công làm nên nợ
Có   rồi,   rồi   lại   hóa   ra   không.



MONG ĐƯỜNG VỀ


Hương vườn có ổi chín tươi,
Hương tình ẩn náu trên môi nhân từ
Đường về mong được hồi cư,
Người đi chân mỏi tưởng như bến bờ.







ĐÊM DÀI

Cứ   để   cho   xa   lòng   một   chút,
Còn   hơn   ôm   ấp   mộng  liêu trai
Qua xóm nhỏ thả hồn canh từng phút
Ru  thời  gian, cơn sóng  vụt  đêm dài.

JB.Sĩ Trọng.

Thứ Tư, 5 tháng 1, 2022

Xin đừng gọi Thiên Chúa là "Thần Chưa Biết"


 Đọc Kinh Thánh : Công vụ Tông đồ 17,16-32.

I. Không biết thờ Chúa :
    Câu chuyện Kinh Thánh chúng ta đọc hôm nay xảy ra trong chuyến truyền giáo thứ nhì của Phaolô. Trong câu chuyện này những người phụ tá của Phaolô đang còn ở Bê-rê, và một mình Phaolô đã đến A-thên trước. A-thên là thủ đô của Hy Lạp, là một trung tâm văn hóa bậc nhất thời bấy giờ. Lòng Phaolô tan vỡ khi thấy dân chúng tại thành phố văn vật này chìm ngập trong sự thờ phượng các thần tượng. Người Hy Lạp thờ nhiều thần. Có người mỉa mai rằng ở A-thên dễ tìm một vị thần hơn là tìm một người. Các thần của họ là các hiện tượng thiên nhiên hay các nhân tính được thần thánh hóa. Giữa thành phố đầy tượng thần đó, Phaolô đã tích cực rao giảng Phúc âm trong các Hội đường người Do Thái, và hằng ngày ông cũng giãi bày Phúc âm cho những người ông gặp ngoài chợ. Sự giảng dạy của Phaolô không lâu đã được các triết gia Hy Lạp chú ý. Họ gồm những người theo phái Epicuriens và phái Stociens ( Hưởng Lạc và Khắc Kỷ ). Phái Hưởng Lạc tin rằng các thần linh thì ở xa và không quan tâm gì đến thế gian; mọi sự xảy ra do ngẫu nhiên; chết là hết, cho nên tìm lạc thú là cứu cánh của đời sống con người. Trong khi đó nhóm Khắc Kỷ thì lại cho rằng có một Thiên Chúa ( TC ) nghiêm khắc ở trong tất cả mọi vật; con người cần phải sống khắc khổ để có thể tìm thấy hạnh phúc đích thực.
    Bức tranh ảm đạm về đời sống tôn giáo của A-thên thời ấy cũng là bức tranh chung của nhiều dân tộc trên thế giới xưa nay. Dù Chúa bày tỏ chính Ngài qua thiên nhiên ( Rm 1,18-22 ), cũng như qua lương tâm ( Rm 2,14-16 ); nhưng con người chúng ta mù tối, dập tắt ngọn lửa lương tâm nên không thể nhận biết Ngài. Kết quả là mọi người, từ người bình dân cho đến người trí thức cùng nhau sai lạc. Người bình dân mê muội trong sự mê tín, người trí thức mê muội trong những triết lý lẩn quẩn của mình. Họ thờ phượng con người, thờ những loài thụ tạo, thờ những sản phẩm do bàn tay hay khối óc họ tạo ra, thay vì thờ phượng Đấng Tạo hóa. Lấy kinh nghiệm của người Việt chúng ta làm ví dụ. Chúng ta biết kêu Trời, biết nhờ Trời, biết nói "lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống..." Vậy mà có mấy ai biết tìm hiểu Trời là ai, và mấy ai biết thờ kính Trời ?
    Là những người biết thờ Chúa, chúng ta cần giúp những người chưa biết thờ Ngài. Chúng ta cần học hỏi Lời Chúa để có thể dùng lời ấy mà giải bày Chúa cho những người xung quanh, giống như Thánh Phaolô xưa kia đã làm. Chúng ta cũng cần học hỏi Lời Chúa để canh phòng tâm linh chúng ta, không khéo chúng ta lại rơi vào tình trạng không biết thờ Chúa mà lại thờ lạy các thần tượng lúc nào không hay.

II. Thờ Chúa không biết :
    Sách Công vụ Tông đồ gọi vị Thần Chưa Biết là Thần Vô Danh. Thật ra đó là tên của một Ngôi Đền lớn ở Hy Lạp. Hy Lạp có nhiều đền thờ, mỗi đền thờ thờ mỗi vị thần khác nhau; trong đó có một đền thờ nguy nga lộng lẫy, lớn hơn cả, gọi là đền thờ "Dân thờ Thần Chưa Biết"( Cv 17,23 ).
    Các triết gia của hai phái Hưởng Lạc và Khắc Kỷ đã đến gặp Phaolô. Họ hỏi : "Người già mép này muốn nói gì đó ?". "Gìa mép" ở đây có nghĩa là "lép xép", một lời khinh thị sỗ sàng dành cho vị Sứ đồ, nhà thần đạo hảo hạng.
    Các triết gia điệu Phaolô đến một nơi gọi là A-rê-ô-ba. A-rê-ô-ba là tên một ngọn đồi và cũng là tên của tòa án được triệu tập tại ngọn đồi ấy. Đây là tòa để xét xử các vụ án mạng, cũng như giải quyết những vấn đề tôn giáo, đạo đức của người thành phố. Mọi người sẽ run sợ khi ra trước tòa này, nhưng Phaolô đã bình tỉnh giảng giải Phúc âm cho các quan tòa và mọi người tại đó. Phaolô bắt đầu bài giảng với lời khen ngợi lòng mộ đạo của dân A-thên. Tiếp theo ông đề cập đến một Ngôi Đền, đặc biệt ông thấy Ngôi Đền này ghi mấy chữ "Dân thờ Thần Chưa Biết". Người Hy Lạp đã thờ rất nhiều thần rồi, tuy vậy, họ sợ còn thiếu sót, có một vị thần họ chưa biết, lớn hơn hết, bao quát tất cả các vị thần, cho nên họ làm nên một Đền Thờ để thờ vị thần chưa hay chưa biết đó, hầu cho thần khỏi phiền giận họ. Có vậy họ mới bảo đảm sẽ được phước hạnh.
    Thờ Thần Chưa Biết ! Thật là một việc làm ngộ nghĩnh. Tuy nhiên, ngày nay cũng không thiếu người làm như vậy. Có người dù đã thờ nhiều thần linh có tên tuổi, hay theo những triết lý có sách vở hẳn hoi; nhưng họ vẫn chưa an tâm, vẫn thờ thêm những thần không biết khác. Dù không lập một Đền thờ cho Thần Không Biết, nhiều người vẫn thường van vái "các Đấng Thiêng Liêng", những "người khuất mặt khuất mày", hay trông đợi "mệnh số", "thời vận"...Trong khó nguy người ta sẵn sàng nhờ cậy bất cứ thần linh nào, vơ đũa cả nắm. ''Thờ thần không biết" nhưng lại "thiết thần không bờ". Kết quả ra sao ? Có khi người ta vẫn vượt qua được khó nguy, có khi không. Nhưng dù qua dù không, người thờ Thần Chưa Biết vẫn không biết Thần họ thờ. Tâm linh vẫn không khai sáng thêm được chút nào, đôi lúc còn gặp khó khăn do các vị thần ấy đòi hỏi và gây nên nhiều chuyện rủi ro.
    Trong niềm tin của người Kitô hữu, biết Chúa mình thờ là điều quan trọng. Gioan Tông đồ dạy rằng : "Sự sống đời đời là nhận biết Cha, TC duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Đức Giêsu ( GS ) Kitô"( Jn 17,3 ). Chúng ta có dành thì giờ học biết Chúa, quen biết Ngài, như chúng ta đáng phải biết chưa ? Hay chúng ta vẫn còn "thờ Chúa" mà mình "không biết" gì về Ngài ?

III. Biết Chúa mình thờ không ?
    Sau lời mở đầu về chuyện "Dân Thờ Thần Chưa Biết", Phaolô giải nghĩa Phúc âm. Ông giới thiệu Đức Chúa Trời chính là Đấng mà người Hy Lạp không biết. Ông cho biết các nét sau đây về Ngài :
        1. Ngài là Đấng Tạo Hóa ( Cv 17,24 ). Ngài tạo nên thế giới và mọi vật trong đó.
        2. Ngài là Đấng vĩ đại. Ngài không những ngự trong Đền thờ do tay con người tạo ra ( Cv 17,24a ), không cần ai phục vụ ( Cv, 25a ).
        3. Ngài là nguồn ban sự sống ( Cv 17,25b ).
        4. Ngài là nguồn cội của loài người ( Cv 17,28 ).
        5. Ngài là Đấng nhân từ, sẵn sàng tha thứ lỗi lầm của nhân loại, và Ngài kêu gọi mọi người hãy ăn năn.
        6. TC chọn Đức GS làm Đấng phán xét thế giới ( Cv 17,31 ). Vị Thần chưa biết ấy chính là Đức GS Kitô.
    Trên đây là những dạy dỗ căn bản về Chúa dành cho người chưa biết, chưa tin Ngài. Chúng ta có thể dùng những dạy dỗ ấy để giới thiệu Chúa cho thân hữu. Mặt khác, chúng ta cũng có thể dùng các dạy dỗ trên làm nền tảng cho sự suy gẫm của chúng ta để chiêm ngưỡng, cảm tạ Chúa. 
    Bạn có ý thức sự nhân từ, vĩ đại của Chúa mỗi lần tương giao, thờ phượng Ngài không ? Bạn có tôn thờ, cảm tạ Chúa một cách xứng đáng không ?

IV. Xin đừng gọi TC là "Thần Chưa Biết":
    A-thên là thủ đô của Hy Lạp. Thánh Phaolô đã giãi bày cho người A-thên ở tại A-rê-ô-ba nghe. Họ đã nghe biết Chúa. Bây giờ phần còn lại là đáp ứng của họ. Họ có sẵn sàng thờ Chúa họ đã nghe biết không ? Sách Công vụ Tông đồ ghi rõ : "Khi chúng nghe nói về sự sống lại, kẻ thì nhạo báng, người thì nói lúc khác chúng ta sẽ nghe ngươi nói về việc đó...Nhưng có mấy kẻ theo Người và tin"( Cv 17,32-34 ). Chúng ta thấy có ba cách đáp ứng :
        1. Kẻ thì nhạo báng :
    Những người này chê cười Phaolô và cho rằng những gì ông nói không có giá trị, không đáng để ý, không đáng tin. Có lẽ số người này khá đông. Ngày nay chúng ta ra đi giới thiệu Chúa cho thân hữu, chúng ta cũng không ngạc nhiên khi thấy có những người chê cười cho chúng ta là mê tín, cuồng tín, phản khoa học, viễn vông, không thực tế, vọng ngoại, ngược với truyền thống.v.v...Chúng ta đừng nản lòng, nhưng cần phải biết thương mến những người này nhiều hơn, vì "Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu", Chúa nhẫn nhục chờ đợi con người ăn năn, nhưng đến kỳ Ngài sẽ thi hành sự đoán phạt của Ngài.
        2. Người thì nói lúc khác :
    "Lúc khác" hay "dịp khác" cũng vậy, cơ hội chỉ có một. Những người này không chê cười. Có lẽ họ thấy Phaolô nói cũng hợp lý, nhưng hoặc không muốn nghe tiếp, hoặc chưa muốn hưởng ứng lời mời gọi của ông ngay. Những người này có thể hoặc thấy cần tìm hiểu thêm trước khi quyết định chọn Chúa. Sự cẩn trọng như vậy có thể tốt. Nhưng cũng có người muốn trì hoãn như là cách để tránh né, không muốn thờ Chúa, dù biết thờ Chúa là phải lẽ. Những người này muốn hẹn ngày mai sẽ nghe Chúa, thờ Chúa, nhưng nhiều khi ngày mai sẽ không bao giờ đến. Thật đáng tiếc cho những người trì hoãn như vậy !
        3. Mấy kẻ theo Người và tin :
    Đây là những người biết đáp ứng tốt nhất. Họ được biết Chúa là Chân Thần thì thờ Chúa ngay. Một chân trời mới mở ra cho những người này. Họ bước từ miền u tối sang nước của sự sáng TC. Họ đổi từ danh hiệu "tội nhân" trở thành "thánh nhân". Họ thoát khỏi sự chết để được sự sống đời đời.
    Như thế là đã có bằng chứng cụ thể từ bao đời nay, xin đừng gọi TC là "Thần Chưa Biết" nữa, vì Ngài đã mặc khải trọn vẹn rồi. Bạn hẳn đã thuộc về nhóm thứ ba trong ba nhóm kể trên. Hãy cảm tạ Chúa về cơ hội bạn biết Ngài, và những phước hạnh lớn lao bạn nhận được từ Ngài. Cũng hãy dành thì giờ học biết Chúa sâu nhiệm hơn, đời sống bạn phản ánh vẻ đẹp thiêng liêng sẽ thu hút người khác khi bạn có mối tâm giao gần gũi với Chúa và kiên trì giới thiệu Chúa cho thân hữu, dù nhiều khi bạn gặp người nhạo báng, hay người trì hoãn không chịu theo Chúa ngay.
    "Con dâng lên Ngài lòng cảm mến vô biên. Con dâng lên Ngài ôi trái tim dịu hiền. Chúa ơi, tình Ngài cao như Thái Sơn, chứa chan bao niềm mến thương !"( Lời của một bài hát ).

V. Cầu nguyện :
    Lạy Chúa, tâm hồn con cảm thấy vui vẻ và hạnh phúc lắm vì Chúa cho con nhận biết Chúa. Xin soi sáng, giúp con hiểu biết Lời Ngài nhiều hơn để con có thể chia sẻ Phúc âm của Ngài cho đồng bào con. Xin giúp con trung tín học Lời Ngài, xin Chúa Thánh Thần soi dẫn để con biết Ngài tỏ tường hơn, để con có thể chia sẻ phước hạnh tôn thờ Ngài cho người khác.
    Lạy Chúa là TC, là cội nguồn sự sống, là Cha nhân từ đã cứu chuộc con, Ngài cho con được tôn thờ Ngài. Con cảm tạ ơn Ngài. Lạy Chúa xin giúp con biết Ngài càng thêm và giúp con kiên trì chia sẻ những hiểu biết, kinh nghiệm đó cho người khác. Amen !

JB.SĨ TRỌNG.

Các nhà khoa học tin Chúa

 

25 nhà khoa học lừng danh nói về Thiên Chúa

2/7/2017 11:53:03 AM
Dù ai nói rằng khoa học và tôn giáo không hòa hợp với nhau nhưng những người đoạt giải Nobel và các nhà khoa học này thì không.

AlbertEinstein.jpg

Johannes Kepler (1571–1630), Một trong những nhà thiên văn vĩ đại nhất:
 
"Thiên Chúa thật vĩ đại. Quyền năng Ngài vĩ đại và sự khôn ngoan thì vô hạn. Hãy ca tụng Ngài bằng ngôn ngữ của mình, hỡi trời và đất, mặt trời và mặt trăng, các tinh tú. Lạy Thiên Chúa và là Đấng Tạo Dựng nên con! Với trí khôn giới hạn của con, con muốn loan báo sự kỳ diệu của các công trình Ngài cho mọi người hiểu được”
 
Nicolaus Copernicus (1473–1543), nhà thiên văn học và là người đề xuất thuyết nhật tâm (heliocentrism):
 
"Ai có thể sống cận kề với một trật tự hoàn bị nhất và trí năng siêu vượt của Thiên Chúa mà không cảm thấy dâng trào những cảm hứng cao quý? Nào ai không thán phục vị kiến trúc sư của tất cả các công trình này?”
 
Isaac Newton (1643–1727), nhà sáng lập vật lý lý thuyết cổ điển:
 
"Điều ta biết được chỉ là một giọt nước, điều ta chưa biết là cả một đại dương bao la. Những xếp đặt và hài hòa của vũ trụ chỉ có thể xuất phát từ bản vẽ của một Đấng toàn năng và toàn tri”
 
Carl Linnaeus (1707–1778), nhà sáng lập môn thực vật học hệ thống:
 
"Tôi đã thấy Thiên Chúa toàn năng, vô hạn và vĩnh cửu đi ngang qua rất gần, và tôi quỳ xuống bái lạy Ngài”
 
Alessandro Volta (1745–1827), người khám phá ra các ý niệm cơ bản về điện: 
 
"Tôi tuyên xưng đức tin Công giáo Roma, thánh thiện và tông truyền. Tôi tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho tôi đức tin này, nhờ đó mà tôi có một ý hướng vững chắc để sống và chết”
 
Andre-Marie Ampere (1775–1836), người khám phá ra các định luật cơ bản về điện:
 
"Thiên Chúa vĩ đại biết bao và khoa học của chúng ta chỉ là chuyện vặt vãnh!”
 
Augustin Louis Cauchy (1789–1857), nhà toán học kiệt xuất và nhà sáng lập môn Toán phân tích phức tạp (complex analysis): 

"Tôi là Kitô hữu, có nghĩa là tôi tin vào thần tính của Đức Kitô, giống như tất cả các nhà thiên văn vĩ đại khác cũng như các nhà toán học lớn trong quá khứ”
 
Carl Friedrich Gauss (1777-1855), được cho là “Ông hoàng của các nhà toán học” vì đã đóng góp nhiều vào lãnh vực toán học và khoa học:
 
"Khi giờ cuối cùng đã điểm, chúng ta vui sướng hân hoan vì sẽ nhìn thấy Đấng mà chúng ta chỉ có thể thấy lờ mờ trong tất cả những khám phá của chúng ta”
 
Justus von Liebig (1803–1873), nhà hóa học lừng danh:
 
"Sự vĩ đại và trí khôn vô tận của Đấng Tạo Hóa sẽ chỉ được nhận thấy bởi những người cố công rút ra những ý tưởng của mình từ cuốn sách vĩ đại mà chúng ta gọi là thiên nhiên”
 
Robert Mayer (1814–1878), nhà khoa học tự  nhiên (Định luật bảo tồn năng lượng):
 
"Tôi đang dần kết thúc cuộc đời mình với sự quả quyết rằng: khoa học thật sự và triết học thật sự không là gì khác ngoài là môn dẫn nhập cho Kitô giáo”
 
Angelo Secchi (1803–1895), nhà thiên văn học lừng danh:
 
"Từ chiêm ngưỡng đất trời đến Thiên Chúa chỉ là một khoảng cách ngắn”
 
Charles Darwin (1809–1882), Thuyết tiến hóa:
 
"Tôi không bao giờ từ chối sự hiện hữu của Thiên Chúa. Tôi nghĩ thuyết tiến hóa phù hợp với niềm tin vào Thiên Chúa. Tôi cho rằng bằng chứng mạnh mẽ nhất về sự hiện hữu của Thiên Chúa đó là ta không thể giải thích hay hiểu được vũ trụ mênh mông vượt xa mọi phép tính toán và không thể giải thích được rằng con người là kết quả của ngẫu nhiên”
 
Thomas A. Edison (1847–1931), nhà sáng chế nắm giữ 1200 bằng sáng chế:

"Tôi tôn trọng và ngưỡng mộ tất cả các kỹ sư, đặc biệt là người kỹ sư vĩ đại nhất: Thiên Chúa”
 
Carl Ludwig Schleich (1859–1922), nhà phẫu thuật nổi tiếng, người tiên phong của phương pháp gây tê tại chỗ (local anesthesia):
 
"Tôi trở thành tín hữu qua kính hiển vi và quan sát thiên nhiên, và tôi muốn đóng góp theo khả năng mình vào sự hòa hợp giữa khoa học và tôn giáo”
 
Guglielmo Marconi (1874–1937), nhà sáng chế vô tuyến điện thoại, giải Nobel 1909:

"Tôi hãnh diện tuyên xưng rằng mình là một tín hữu. Tôi tin vào quyền năng của sự cầu nguyện, và tôi tin không chỉ như là người Công giáo mà còn là một nhà khoa học”
 
Robert Millikan (1868–1953), Nhà vật lý Hoa Kỳ, giải Nobel 1923:

"Tôi có thể khẳng định rằng việc từ chối đức tin là thiếu nền tảng khoa học. Theo quan điểm của tôi, không có bất kỳ sự mâu thuẫn nào giữa đức tin và khoa học”
 
Arthur Eddingtong (1882–1946), Nhà thiên văn học người Anh, nhà toán học và vật lý thiên thể:
 
"Trong số những người sáng tạo nên thuyết vô thần thì không có ai là nhà tự nhiên học. Tất cả họ đều là những triết gia tồi”
 
Albert Einstein (1879–1955), người đặt nền cho vật lý hiện đại (Thuyết tương đối), giải Nobel 1921:

"Những ai nghiêm túc nghiên cứu khoa học đều chắc một điều là trong tất cả những định luật của vũ trụ đều có bóng dáng của một thần linh siêu vượt lên trên con người và chúng ta phải cảm thấy mình thật thấp kém”
 
Max Planck (1858–1947), người sáng tạo nên vật lý lượng tử (quantum physics), giải Nobel 1918:

"Do xung lượng của kiến thức đòi hỏi, không gì ngăn cản chúng ta liên kết trật tự của vũ trụ với Thiên Chúa của tôn giáo. Đối với người tin, Thiên Chúa đứng ở đầu câu chuyện; đối với nhà vật lý, Thiên chúa ở cuối câu chuyện”
 
Erwin Schrödinger (1887–1961), người khám phá ra cơ học sóng (wave mechanics), giải Nobel 1933:

"Kiệt tác tinh vi nhất là tác phẩm của Thiên Chúa, theo các nguyên tắc cơ học lượng tử (quantum mechanics)…"
 
Howard H. Aiken (1900-1973), người tiên phong trong lãnh vực máy tính:

"Vật lý hiện đại dạy tôi rằng thiên nhiên không thể tự xếp đặt mình theo trật tự. Vũ trụ là một khối trật tự khổng lồ. Vì vậy, nó đòi hỏi một “Nguyên Nhân Đầu Tiên” thật vĩ đại và không phụ thuộc vào đinh luật biến đổi năng lượng hai và vì thế đó là Đấng Siêu Nhiên”
 
Wernher von Braun (1912–1977), kỹ sư tên lửa và kiến trúc sư không gian:

"Trên hết mọi sự là vinh quang Thiên Chúa, Đấng mà con người và khoa học khám phá và tìm kiếm mỗi ngày với sự tôn kính thẳm sâu”
 
Charles Townes (1915), Nhà vật lý cùng nhận giải Nobel 1964 Nobel vì đã khám phá ra các nguyên tắc của tia laser:

"Là người có tôn giáo, tôi cảm thấy được sự hiện diện và can thiệp của Đấng Sáng Tạo ở cách xa tôi nhưng luôn rất gần … một trí năng góp phần sáng tạo nên các định luật của vũ trụ."
 
Allan Sandage (1926-2010) Nhà thiên văn Hoa Kỳ, người tính toán tốc độ giãn nở của vũ trụ và tuổi của nó bằng cách quan sát các vì sao xa:

"Thuở thiếu thời tôi là người vô thần. Khoa học đã đưa tôi đến kết luận rằng thế giới này phức tạp hơn tôi tưởng. Tôi chỉ có thể giải thích mầu nhiệm hiện hữu bằng cách nại vào một Đấng Siêu Nhiên”
 
Tấm danh thiếp và sự ngạc nhiên:
 
Một sinh viên trẻ ngồi cùng toa xe lửa với một ông già đang lần hạt. Anh mạnh dạn bắt chuyện với ông: “Thay vì lần hạt, tại sao ông không dành thời gian học hỏi và tự đào luyện bản thân đôi chút nhỉ? Tôi có thể gởi cho ông một cuốn sách hướng dẫn” Ông già đáp: “Anh làm ơn gởi cuốn sách đến địa chỉ này”, và ông trao cho anh sinh viên tấm danh thiếp. Tấm danh thiếp ghi là: Luis Pasteur, Viện khoa học Paris. Anh sinh viên cảm thấy xấu hổ vô cùng. Ạnh định khuyên nhủ một học giả lừng danh nhất của thời đại mình, nhà sáng chế ra vaccines, được cả thế giới ca tụng và là một người siêng năng lần hạt
 

Tác giả Javier Ordovás
là nhà kinh tế học đã viết hơn 500 bài báo về các vấn đề Công giáo
 

Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ

Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2022

Mừng Sinh Nhật của tôi

 Cứ như thế để mây trời xanh thắm, 
Vẫn nụ cười tươi tắn giữa bình yên
Thêm một tuổi cho đời như biển mặn,
Ướp tình người trong tình Chúa vô biên.

Teresa Trần.


Hướng đến năm mới


 Là người Công giáo, ai cũng biết Năm Phụng vụ bắt đầu từ Chủ nhật I Mùa Vọng. Gia đình đã nhận được Thư của Đức Giám mục Giáo Phận. Giờ đây, trong tinh thần "Hướng đến một Hội Thánh Hiệp hành" tôi viết lên những dòng suy tư này để chuẩn bị bước vào năm mới.

1. Đọc Kinh Thánh và suy gẫm :
    Tình cờ tôi lật trang Kinh Thánh, đọc Tin Mừng Maccô 9,14-27 cho thấy : Chúa GS chữa người bị quỷ ám mắc chứng động kinh. Không những Maccô mà cả Luca và Matthêu cũng ghi lại : Lc 9,37-43a v Mt 17,14-21. Toàn thể thái độ của người cha cậu bé soi sáng cho chúng ta nhiều điều. Thoạt tiên, ông muốn đến tìm gặp chính Chúa Giêsu ( GS ), nhưng vì Chúa ở trên núi nên ông trình bày sự việc với các Môn đệ Ngài, và kinh nghiệm của việc này làm ông bất mãn. Đức tin ông rúng động đến nỗi khi gặp Chúa GS ông chỉ có thể nói "Nếu Thầy làm được gì xin giúp cho". Song, khi gặp Chúa GS mặt đối mặt, đức tin ông ta bất chợt bùng lên : "Tôi tin, xin Chúa giúp đỡ cho sự không tin của tôi". Ý ông muốn nói : Nếu trong tôi còn một chút thất vọng nào, một chút nghi ngờ nào xin cất chúng khỏi tôi và đổ đầy trong tôi một niềm tin không thắc mắc. Tức thì cậu bé được chữa lành. Khi chúng ta chiến đấu đến chỗ đối diện với Chúa GS, Ngài chẳng bao giờ để chúng ta thất vọng. 
    Trên đường theo Chúa, chúng ta cũng bắt đầu năm mới với những khuyết điểm của hiện tại, của những tháng ngày qua. Dây kinh nghiệm quá dài, các quan chức chính quyền nhà nước rút mãi cũng không hết, và chúng ta cũng vậy. Điều khác biệt là chúng ta không bị hạn hẹp trong mơ ước suông. Chúng ta có niềm tin, có lời hứa, có được sự bảo đảm. Lời Chúa hứa trong Matthêu 7,7 làm nên sự khác biệt đó : "Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ cửa sẽ mở cho". Thế nhưng tại sao còn nhiều tín hữu đang sống trong ước mơ mộng mị, không nền tảng và ngày tháng của họ cũng chẳng phước hạnh gì :

            Đã suy tư khi đêm về quạnh vắng, 
            Mà tâm tư còn ngã bóng trăm chiều
            Làm như thế cõi lòng thêm trĩu nặng
            Chẳng được gì, hồn vẫn thấy cô liêu.

    Hai điều căn bản thiết yếu nêu ra ở đây : Trước hết chúng ta có được những giấc mơ căn cứ trên nền tảng đáng tin tưởng, có được cái nhìn mà một số tín hữu vững mạnh còn gọi là dấu chỉ cho năm tới. Theo một thống kê nho nhỏ, khảo sát trong mười người có sáu người sống không có ước mơ, dự định cho tương lai của mình. Số người không có ước mơ này vượt quá bán, là "Đành liều nhắm mắt đưa chân / Thử xem con tạo xoay vần đến đâu ?". Đó là rơi vào một tình cảnh hoàn toàn bế tắc ! Ta không thể như thế được, mặc dù ước mơ không phải đóng thuế, như bao người từng nói đùa. Nếu một tín hữu không có ước mơ, không biết điều mình ước muốn thì làm sao xin ? Đã không xin lại còn say xỉn tối ngày. Mà nếu không xin thì Chúa làm sao ban cho ? Con khóc mẹ mới cho bú chứ ? Có người lý luận Chúa biết trước khi mình xin. Nên nhớ rằng : Có những nhu cầu khác Chúa biết mà Chúa chỉ ban cho khi chúng ta xin. Cha mẹ biết con cái đói và lo cho con ăn mặc đầy đủ, nhưng cha mẹ đâu có mua xe hay sắm điện thoại cho con khi nó không xin ? Con cái phải tỏ ra ước muốn của mình, cha mẹ thấy tốt cho con thì khi đó mới quyết định, chứ không cho ẩu được. Đối với Chúa vấn đề ở đây không phải là Chúa biết hay không biết, cho hay không cho. Vấn đề đúng hơn là khi chúng ta cầu xin, chúng ta bày tỏ khả năng xin và khả năng nhận lãnh, kèm theo đó là lòng mến yêu.
    Điểm thứ hai là chúng ta có tin lời Chúa hứa hay không ? Trong Maccô 9,14-27 người cha đặt chữ "nếu" với Chúa, Chúa trả lời lại "Nếu ngươi tin". Điều kiện nếu ở đây không phải đặt cho Thiên Chúa mà đặt cho người xin. Chúng ta có tin để nhìn được, để có được dấu chỉ lớn hơn, hiệu quả hơn cho năm mới, để cầu xin hay không ? Tin vào Chúa hay tin vào ma quỷ ?

2. Chúa chọn và sứ mệnh dấn thân phục vụ :
    Có khi nào bạn tự hỏi mình hiện hữu trên trần gian này để làm gì chăng ? Tại sao bạn lại được Chúa chọn, Chúa cứu, Chúa gọi từ giữa hơn 6 tỉ người trên thế giới hiện nay ? Bạn có thích lời bài hát này không : "Từ rất xa khơi, Chúa đã chọn tôi đi giữa dòng đời rao truyền tin mới / Từ rất xa khơi, Ngài đã chọn tôi đi vào thế giới rắc gieo tình người..."?
    Trước thềm năm mới tôi muốn bạn xác định dứt khoát hướng đi cho cuộc đời mình, cho những tháng ngày trước mắt. Bên giếng Si-kha, Chúa GS khẳng định với các Môn đệ rằng : "Thức ăn của Ta là làm theo ý muốn Đấng sai Ta đến, và làm trọn công việc của Ngài". Thanh Phaolô tuyên bố : "Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình". Thế thì cuộc đời bạn đang thuộc về ai ? Bạn muốn sống cho ai ? Có nhà thơ viết : 
            "Trước  tôi  ai  đã  là  tôi , 
            Sau tôi bây giờ ai lại là tôi ?"
        Nếu bạn thực sự biết mình là ai và Chúa GS đã, đang và sẽ làm gì cho bạn, không thể nào có quyết định khác hơn là "sống với Chúa và sống cho Ngài".
    Dù Kinh Thánh không đề cập sự vâng phục như là điều kiện tiên quyết để bước vào mối liên hệ cá nhân với Thiên Chúa, nhưng chẳng ai có thể thực sự tuyên bố là yêu Thiên Chúa mà lại không tuân phục Ngài ( Jn 14,15 ). Tuy nhiên, muốn sống với Chúa và sống cho Ngài, chúng ta cần bắt đầu thì giờ riêng với Chúa, trong sự hiện diện của Chúa, trong mối tương giao với Chúa, để có thể lắng nghe và tiếp nhận Lời Chúa cho mình cũng như gia tăng sự nhận biết Chúa mỗi ngày để có thể kinh nghiệm sự sống mới tuôn tràn của Ngài khi thực hành Lời Chúa dạy. Bài học Kinh Thánh hằng ngày mong ước sẽ góp phần đem đến cho bạn những giờ tĩnh nguyện tuyệt vời, để bạn có thể sống với Thánh Kinh mỗi ngày và sống phục vụ Chúa, phục vụ tha nhân suốt những tháng ngày mới trước mắt cũng như trọn cả cuộc đời, để bạn có thể thưa với Chúa GS như Ngài đã thưa với Chúa Cha rằng "Con đã tôn vinh Cha trên cõi thế này, làm xong công việc Cha trao phó". 
    Ngày 11.4.2015, Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành Tông sắc "Dung mạo lòng thương xót" mở ra nền tảng sống cho các gia đình : "Dung mạo lòng thương xót của Chúa Cha chính là Đức Kitô GS. 'Lúc đến thời viên mãn'( Gl 4,4 ), khi mọi sự đã được sắp xếp đúng theo dự định Cứu độ, Ngài sai Người Con duy nhất của Ngài đến thế gian, được sinh ra bởi Trinh nữ Maria, để mặc khải cho chúng ta biết trọn vẹn tình yêu của Ngài". Đức Thánh Cha ngỏ cùng người trẻ rằng : "Chúa Kitô đang sống ! Người là niềm hy vọng của chúng ta, và là tuổi trẻ đẹp nhất của thế giới này. Tất cả những gì Người chạm đến đều trở nên tươi trẻ, mới mẻ, tràn đầy sức sống"( Trích thư Mục vụ của Đức Cha Gioan Đỗ văn Ngân gởi toàn thể Linh mục, tu sĩ và giáo dân trong Giáo phận Xuân Lộc ).
    Đôi khi chúng ta nghiên cứu Kinh Thánh chỉ vì bổn phận, nếu không học Lời Chúa thì chúng ta thấy sao sao ấy ! Hoặc có khi mở Kinh Thánh để tìm lối thoát cho nan đề chúng ta gặp phải. Tác giả Thánh Vịnh khuyến khích chúng ta phải vượt lên trên trình độ ấy. Phải học hỏi Thánh Kinh để biết Chúa nhiều hơn - và sống một cuộc đời thánh thiện hơn.
    Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Côlôsê viết rằng : "Ứơc chi lời Đức Kitô  ngự giữa anh em thật dồi dào phong phú. Anh em hãy dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan... Anh em có làm gì, nói gì, thì hãy làm hãy nói nhân danh Chúa GS và nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha"( Cl 3,16-17 ). Ngày nay có vô số tà phái làm ô nhiễm tâm trí của nhiều Kitô hữu. Những huấn dụ xưa của Thánh Phaolô cũng có giá trị cho chúng ta. Khi chúng ta học biết lẽ thật về Chúa GS thì chúng ta sẽ hiểu Thiên Chúa hơn, và chúng ta cũng được trang bị kỹ hơn để bác bỏ những luận điệu sai lầm của các tà phái đang rình rập chung quanh ta.
    Đức GS hiểu rõ Cựu ước. Ngài thường dùng Cựu ước để soi sáng những lúc gặp khó khăn. Chúng ta cũng phải noi theo Ngài, học Kinh Thánh cẩn thận để ứng dụng vào đời sống hằng ngày. Hiện nay dành thì giờ để học Kinh Thánh là việc khó, ta thường nại cớ có quá nhiều công việc và quá ít thời gian ! Nhưng hãy nhớ rằng học Lời Chúa sẽ đem phần thưởng quý giá nhất cho đời sống chúng ta. Khi Lời Chúa chiếm hữu lòng chúng ta, không những giúp chúng ta hiểu biết Chúa rõ hơn ( Jn 5,39 ), uốn nắn, rèn luyện để chúng ta nên người đẹp lòng Chúa ( I Tm 3,16-17 ), và cũng là vũ khí để chúng ta chống lại cám dỗ của ma quỉ ( x Mt 4,1-11 ).
    Mỗi người chúng ta được Chúa chọn, chúng ta nên có ý thức biết dấn thân phục vụ.

3. Cầu nguyện :
    Lạy Chúa GS yêu dấu, con xin dâng lên Chúa một năm mới của con. Xin hướng dẫn con, ban cho con cái nhìn mới, dấu chỉ mới, lòng quảng đại; giúp con hướng theo điều Chúa soi dẫn và giáo huấn của Hội Thánh. A men !

JB.SĨ TRỌNG.