Thứ Ba, 20 tháng 4, 2021

Chúa - Nguồn ủi an trong dịch bệnh


Khi lệnh giãn cách ban hành không biết kéo dài bao lâu, nhưng học sinh nghỉ học, thầy giáo nghỉ dạy. Trong khoảng thời gian này ta phải làm gì ? Tôi nghĩ : Tôi dành thì giờ để gặp gỡ Chúa và viết suy niệm; học ngoại ngữ, làm vườn, giải trí, uống cà phê, nghe nhạc tại nhà.
Tính đến thời điểm này, Covid 19 đã gây cho thế giới biết bao tổn thất đau thương : Số người lây nhiễm hơn 140 triệu, số ca tử vong vượt mốc 3 triệu người. Trong những ngày gần đây các nước : Ấn Độ, Thái Lan, Myama, Campuchia, số ca nhiễm lại tăng tới mức chóng mặt, làm cho chính phủ các nước này phải hoảng hốt. VN cũng đáng lo ngại vì có một số ca nhiễm từ Campuchia đi qua đường biên giới, Phú Quốc, rồi vào đất liền, về các tỉnh phía Nam... Và ai cũng biết: nước nào có số lượng người lây nhiễm cao thì nước đó số người chết cũng không ít. Dịch Covid 19 diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia như Mỹ, Ấn Độ, Ba Lan, Brazil, đồng thời lây lan diện rộng, với số ca mắc cao ở nhiều nước. Các làn sóng dịch bệnh đáng lo ngại xuất hiện trở lại ở một số khu vực của thế giới, sau khi hàng loạt quốc gia đối mặt với sự bùng phát đợt dịch mới và phát hiện các biến chủng mới của virus SARS-COV-2. Hàng loạt nước đã đẩy nhanh chương trình vaccine, có tiêm ngừa nhưng vẫn chưa bảo đảm an toàn, có trường hợp vaccine chích ngừa 2 mũi mà người ta vẫn chết. Ấn Độ là nước sản xuất vaccine, chiếm 60 % vaccine thế giới, nhưng con người ta vẫn chết từ 3 đến 4000 người mỗi ngày. Thật khủng khiếp ! Đúng là một Đại dịch, không biết bao giờ mới chấm dứt được.

1. Đọc ý Chúa qua biến cố và nghịch cảnh :
    Trong mùa COVID này, mỗi sáng chúng tôi ra công viên đi bộ, miệng bịt khẩu trang và không tiếp xúc với ai. Gặp người quá quen thân, thói quen thông thường chào và bắt tay, nhưng giờ chỉ mỉm cười và nói lời xin lỗi vì mùa dịch nên không bắt tay được, người kia cũng hiểu và cảm thông. Trong hoàn cảnh khó khăn thì ai cũng phải chấp nhận vậy. 
    Theo dõi thông tin mỗi ngày, tôi không khỏi bàng hoàng. Là người Công Giáo, đọc Thánh Kinh tôi hiểu được : Sự sống, sự chết đều nằm trong tay Chúa. Đau khổ là một mầu nhiệm nếu con người chấp nhận trải qua nó và xem nó là phương thế để đạt tới cứu cánh. Tất nhiên ai cũng hiểu phải vững lòng tin và vững lòng cậy trông vào Chúa.
    Ta biết rằng : Thiên Chúa ( TC ) là Cha nhân từ và Ngài không bao giờ bỏ rơi con người. Qủa thật như lời Thánh Phêrô viết trong thư thứ nhất : "Anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Người cất nhắc anh em khi đến thời Người đã định. Mọi lo âu hãy trút cả cho Người, vì Người chăm sóc anh em"( 1 Pr 5,6-7 ). Trong trích dẫn này, câu 7 từa tựa như của Tv 55,23 : "Hãy trút nhẹ gánh lo vào tay Chúa, Người sẽ đỡ đần cho".
    Trở lại một số câu Kinh Thánh mà tôi đã dẫn trong bài trước. Từ sách Sáng thế Cựu ước cho chúng ta nghe được Lời Chúa : "Này, Ta ở cùng ngươi. Ngươi đi đâu, Ta sẽ theo gìn giữ đó"( St 28,15 ); "Đừng sợ, Ta là khiên che thuẫn đỡ cho ngươi, phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn"( St 15,1 ).
    Khi giông tố nghịch cảnh bắt đầu hú lên từng hồi và tai họa trút xuống không ngớt, Thiên Chúa sẵn sàng ban sự che chở. Chúa Giêsu trấn an chúng ta : "Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ" ( Mt 14,27 v Mc 6,50b v Jn 6,20 ) - Lời này được cả 3 Thánh sử Tin Mừng ghi lại.
Trong bối cảnh dịch bệnh do virus Corona gây ra, thiên hạ chết la liệt mà Chúa nói như thế, chúng ta có yên tâm được không ?
Người có đức tin vững vàng thì chẳng có gì mà sợ. Mọi việc nằm trong tay Chúa. Ta hãy nghe lời Chúa Giêsu phán sau đây :
"Anh em là bạn hữu của Thầy. Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà sau đó không làm gì hơn được nữa. Thầy chỉ cho anh em biết hãy sợ ai: Hãy sợ Đấng đã giết rồi lại có quyền quăng vào hỏa ngục -Anh em hãy sợ Đấng ấy. Năm con chim sẻ chỉ bán được hai hào, mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt TC. Tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi. Anh em đừng sợ, anh em còn quý hơn muôn vàn chim sẻ"( Lc 12,4-7 ).

2. Ơn cứu độ và ý loài người :
    Có người nghĩ rằng xưa kia Chúa làm phép lạ cho con người hết bệnh tật thì ngày nay Chúa cũng làm phép lạ cho dịch bệnh biến mất, và ai cũng mong được như vậy. Nhưng Chúa có ra tay để làm cho dịch bệnh biến mất không ? Kẻ ác vẫn ngang nhiên hành động và muốn che dấu tội ác của mình ( một nhà khoa học Trung Quốc tại Mỹ đã lên tiếng tố cáo và cho rằng nguồn gốc virus corona là từ Vũ Hán ), TC toàn năng thì Ngài làm gì mà chẳng được, nhưng tại sao Chúa lại không trừng phạt kẻ ác ?- Đó là những vấn nạn con người đặt ra với ước muốn riêng mình, ý muốn TC thì đôi khi hoàn toàn khác với ước muốn con người.
    Gía trị ơn cứu độ là giá trị mang lại sự sống vĩnh cửu, chứ không phải chỉ mang lại cuộc sống tạm bợ ở đời này. Chúa sẽ không làm phép lạ, Chúa chưa muốn tỏ vinh quang của Ngài vì Chúa thấy chưa mang được ý nghĩa cứu độ, biến cố ấy chưa thức tỉnh con người; con người đam mê hưởng thụ, quá đầy đủ họ chẳng cần nghĩ đến Chúa nữa thì làm sao Chúa có thể ra tay làm "phép lạ" ? Bệnh nhân không tin bác sĩ thì làm sao bác sĩ dám cấp thuốc điều trị bệnh cho họ ?
    Khi nào con người được thức tỉnh ? Thực tại lại là một mâu thuẫn, cũng như ruộng lúa xen lẫn cỏ lùng và lúa mì, người chủ không thể nhổ cỏ vì ngại làm bật gốc lúa mì. Việc gì cũng phải từ từ. Chính Chúa Giêsu cũng phải trải qua đau khổ và cái chết, sau đó Chúa Cha mới làm cho Ngài sống lại. Lazaro đau bệnh và chết, chị em Matta và Maria chạy đi tìm kiếm Chúa, Chúa vẫn thong thả, qua 2 ngày sau Ngài mới đến, Lazaro nằm trong mồ tới 4 ngày nhưng Chúa đã gọi anh ta trỗi dậy( x Jn 11,1-44 ). Chúa có thể làm được mọi điều, nhưng Ngài không thể làm được việc gì mà việc ấy chưa mang lại kết quả và ý nghĩa cứu độ. Chúa trải qua đau khổ vì tội lỗi loài người, vậy mà Ngài cũng đành gánh chịu, Ngài gánh chịu để ơn cứu độ được thực hiện. Đức Cha Giuse Nguyễn Năng, TGM Gp Sài Gòn, trong một Thánh Lễ trực tuyến, Ngài có giảng rằng : "Theo Chúa thì phải vác thập giá. Chúa đến trong trần gian không phải là để xóa đau khổ, Chúa không xóa đau khổ đâu. Chúa bảo chúng ta phải đau khổ, phải vác thập giá, phải hy sinh. Đau khổ không phải là thuốc độc đâu. Có một cách để chứng tỏ một ly nước không phải thuốc độc, là gì ? - Là người đó phải uống trước, sau đó mới đưa cho ta uống, Chúa Giêsu đã uống trước, Ngài uống "chén đắng", đắng nhưng không độc, thuốc đắng giã tật"- Nhờ thế mới mang lại ơn cứu độ.
    Chúng ta phải cảm tạ TC vì Ngài đã quan tâm làm phép lạ chữa lành, hồi phục thế nhân, nhưng không vì thế mà Chúa phải luôn luôn làm phép lạ cho một ai đó khi họ cầu xin - Điều này thật khó nói. Chúng ta sẽ chấp nhận khi chúng ta hiểu được ý nghĩa ơn cứu độ ( như đã trình bày ở phần trên ).

3. Thánh Lễ trong mùa Đại dịch :
    Khi một số quốc gia tuyên bố tạm đình chỉ việc cử hành Thánh Lễ có đông người tham dự giữa cơn đại dịch, đã có nhiều tiếng nói chỉ trích và cười cợt vang lên. Nhiều người không hiểu tại sao phải đến nỗi đình chỉ Thánh Lễ. Họ đặt câu hỏi: Chẳng phải khi con người hãi sợ và hoang mang là lúc họ cần đến Chúa và Thánh Lễ nhất đó sao ? Đình chỉ Thánh Lễ phải chăng chỉ là dấu chỉ của sự nhượng bộ vì sợ hãi ? Chẳng phải đó là dấu hiệu của việc thiếu tin tưởng và phó thác vào sự quan phòng của Chúa ? Có người còn nhìn việc không dám cử hành Thánh Lễ giữa cơn đại dịch như là dấu chỉ thất bại của niềm tin tôn giáo trước biến cố tai họa và đau khổ của nhân loại. Một số người nối kết chuyện các Giáo Phận tự ý đóng cửa nhà thờ với việc cấm đạo ở những nước độc tài. Nhiều người quá khích còn diễn dịch xa hơn khi cho rằng việc đình chỉ Thánh Lễ là quyết định của Satan đang hoạt động trong Giáo Hội…
    Hẳn đây phải là tiếng nói của những người giàu lòng đạo đức. Hơn nữa, có thể những tiếng nói này đều xuất phát từ ý tốt, từ lòng yêu mến Giáo Hội và yêu mến Thánh Lễ. Tuy nhiên, cần đủ bình tâm hơn để suy xét lại những tình cảm đạo đức ấy thì mới có thể có một cái nhìn quân bình và thiêng liêng thật sự. Bằng không, lòng tin theo cảm tính luôn có nguy cơ dẫn người ta đi sai đường.
    Thánh Lễ là nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa và gặp gỡ Thiên Chúa với tư cách là một cộng đoàn. Nói cách khác, Thánh Lễ không chỉ là nơi con người gặp gỡ Thiên Chúa, mà còn là nơi con người gặp gỡ nhau. Chiều kích cộng đoàn và yếu tố con người quan trọng đến độ nếu không giải quyết được những khúc mắc từ yếu tố con người, rất khó để chúng ta có thể dâng Lễ lên trước tôn nhan Thiên Chúa. Chẳng hạn, Đức Giê-su có lần dạy rằng nếu một người muốn dâng lễ vật trước bàn thờ Thiên Chúa, mà chợt nhớ ra mình còn có chuyện bất hoà với người anh em của mình, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em, rồi trở lại dâng lễ vật của mình cho Thiên Chúa (x. Mt 5,23-24). Lời dạy của Đức Giê-su không có nghĩa là việc dâng lễ vật trước bàn thờ Thiên Chúa không quan trọng, nhưng việc ấy vẫn có thể tạm hoãn lại, cho đến khi những khúc mắc từ phía con người được giải quyết.
Khúc mắc mà cả thế giới đang phải đối mặt bây giờ là chuyện lây nhiễm theo cấp số nhân của bệnh dịch. Khi hội họp đông người trong một không gian hẹp, nguy cơ bệnh dịch bị lan truyền và nhân rộng là điều không ai có thể phủ nhận. Giáo Hội Công Giáo luôn xác tín rằng Thánh Lễ là tâm điểm trong đời sống thiêng liêng của mọi tín hữu. Nhưng Giáo Hội chưa bao giờ dạy rằng Thánh Lễ là một cử hành phép thuật có khả năng giúp con người miễn nhiễm khỏi bệnh dịch. Nhà thờ cũng không phải là nơi bất khả xâm phạm đối với virus. Thế nên trong hoàn cảnh hiện tại, cần phải lắng nghe tiếng nói của những người có chuyên môn hơn là chỉ hành động theo cảm tính đạo đức. Tinh thần trách nhiệm và cảm thức về sự liên đới không cho phép chúng ta nhắm mắt làm ngơ như thể không có chuyện gì xảy ra. Như thế, ở những nơi xảy ra bệnh dịch, tạm đình chỉ việc cử hành Thánh Lễ có đông người tham dự là một quyết định đúng đắn và khôn ngoan.
    Dẫu vậy, cần phải minh định rằng ở đây không phải là không cử hành Thánh Lễ mà là Thánh Lễ được cử hành theo một cách khác. Trong hoàn cảnh bất khả kháng, người tham dự Thánh Lễ không thể họp nhau thành một cộng đoàn đông đúc tại nhà thờ, nhưng vẫn có thể hiệp thông để theo dõi và tham dự Thánh Lễ qua các phương tiện truyền thông. Không nên quên rằng đây thật ra là cách tham dự Thánh Lễ thường xuyên của các bệnh nhân, những người già, hay những người bại liệt. Họ là những người không đến nhà thờ được vì lý do sức khoẻ, và phải tham dự Thánh Lễ từ xa. Không ai nói rằng họ “mất Thánh Lễ”, hoặc họ tham dự Thánh Lễ như thế là không xứng đáng trong hoàn cảnh của họ. Vì vậy, ở những vùng tâm điểm của dịch bệnh, khi mọi người bị cách ly và việc cử hành Thánh Lễ bị tạm đình chỉ, đây là thời điểm đặc biệt mà cả những người “khoẻ mạnh” cũng được mời gọi thông phần tham dự Thánh Lễ từ xa. Đây là cách hiệp thông hữu hiệu để cầu nguyện cho mình và cho cả thế giới. Đây cũng là cách các Kitô hữu cộng tác hữu hiệu với những người có trách nhiệm trong việc đề phòng bệnh dịch lây lan, tránh gây thêm nhiều hậu quả nghiêm trọng.
    Dĩ nhiên, vẫn có nhiều người đạo đức muốn được tham dự Thánh Lễ một cách trực tiếp và bình thường. Họ có lo sợ, nhưng vẫn sẵn sàng đến tham dự Thánh Lễ đông người và cho rằng như thế mới là hết lòng đặt trọn niềm tín thác vào Chúa Quan Phòng. Nếu những người này còn được sống trong vùng đảm bảo an toàn thì không sao. Nhưng nếu chung quanh mọi người đều đang phải cố gắng làm hết sức có thể để cách ly, để hạn chế đi lại và tiếp xúc, để không làm bệnh dịch lây lan… thì việc “tuyên xưng đức tin” theo lòng đạo đức thái quá sẽ là rất sai lầm. Đó không phải là tín thác. Đúng hơn, đó là thử thách Thiên Chúa.
    Trong Mùa Chay Thánh ta đã nghe kể lại việc Chúa Giê-su chịu cám dỗ. Thánh Mát-thêu kể rằng trong cơn cám dỗ (Lc 4,9-12) quỷ đưa Đức Giê-su lên nóc cao của Đền Thờ, nghĩa là đẩy Người vào chốn nguy hiểm, rồi thách Người nhảy xuống. Lý luận của ma quỷ là thế này: phải tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, vì chính Thiên Chúa sẽ sai thiên thần của Người gìn giữ, nâng đỡ và không để cho kẻ tín thác vào Người bị tổn hại gì. Đức Giê-su đương nhiên không chiều theo lối thách thức đầy ngạo mạn như thế. Đây là câu trả lời của Người: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Lc 4,12).
4. Lòng tin và sự mù quáng :
    Rất nhiều người hiểu sai lầm về sự quan phòng của Thiên Chúa, cứ cho rằng Chúa quan phòng theo kiểu sẵn sàng ra tay thực hiện phép lạ để cứu những người đang gặp nguy hiểm. Đương nhiên, Thiên Chúa quan phòng là điều những người có đức tin không thể chối cãi. Nhưng quan phòng không có nghĩa là Thiên Chúa phải làm tất cả, và con người không cần làm gì. Biết có nguy hiểm mà người ta vẫn cố chấp lao đầu vào nguy hiểm, thì sự cố chấp ấy không thể nhân danh niềm tin vào sự quan phòng, chẳng khác nào con phù du lao đầu vào ngọn đèn đang cháy. Sự mù quáng ấy chẳng khác nào hơn 30000 người dân Ấn Độ tham gia lễ hội, lao xuống sông Hằng tắm, rồi sau đó ôm nhau mà chết. Một cách cụ thể, trong thời gian này, sự quan phòng của Thiên Chúa được thể hiện qua hướng dẫn của những người có chuyên môn, qua lời khuyên và chỉ dẫn của những người có thẩm quyền. Một người tín thác vào Thiên Chúa là người biết cộng tác với những hướng dẫn thiết thực ấy để không trở nên sai lầm vì chủ quan hoặc vì đạo đức cuồng tín. Sau khi đã làm tất cả những gì có thể trong khả năng của mình, lúc đó con người mới có thể bình an đặt trọn vẹn mọi sự vào trong bàn tay quan phòng yêu thương của Thiên Chúa.
    Khôn ngoan theo truyền thống Kinh Thánh dạy rằng con người không được nại vào Danh Thiên Chúa để giải quyết chuyện của con người. “Ngươi không được dùng Danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng” ( Xh 20:7, Đnl 5:11 ). Con người không được ỉ lại vào Thiên Chúa để bào chữa cho những hành vi chính mình. Một thanh niên ăn bún gánh, ăn xong bỏ chạy không trả tiền, làm cho người bán phải la lên: "Trời ơi là trời, sao không trả tiền cho tui ?"- Thế là Trời bị oan. Anh thanh niên đó không trả tiền, chứ đâu phải là Trời không trả tiền. Có những người rất dễ kéo Chúa vào để đổ lỗi cho bất cứ chuyện gì. Cả khi chính mình là người sai lầm và gây ra hậu quả, họ vẫn trách Chúa tại sao không quan phòng phù trợ. Đó là dấu chỉ của những đức tin và lòng đạo đức chưa trưởng thành: giống như con nít, hay hờn dỗi và thích đổ lỗi, chứ không biết nhận trách nhiệm về mình.
    Trong thời gian qua, để trấn an nhau, người ta chuyền nhau bức hình Chúa Giê-su với dòng chữ: “Đừng lo bị nhiễm Virus Corona, vì đã có Chúa ở cùng”. Cần phải trấn an nhau để tránh tâm lý hoảng loạn là điều nên làm. Tuy nhiên, nếu không khéo, điều người ta đang làm không phải là trấn an mà là dùng niềm tin sai lầm và lòng đạo đức thái quá để ru ngủ nhau. Nói rằng mình có Chúa ở cùng nên không sợ bị nhiễm virus, vậy phải giải thích thế nào với những người đã bị nhiễm virus ? Chúa không ở cùng họ hay sao ? Có Chúa – không lo bị nhiễm virus, là một công thức rất trẻ con, vừa phản khoa học vừa phản đức tin. Đừng nại vào Danh Chúa một cách bất xứng như thế!
    Cha Anthony de Mello kể lại một câu chuyện ngắn như sau. Có một chàng trai trẻ tìm đến với một nhà thông thái để xin học về Thiên Chúa. Chàng trai bước vào căn lều của nhà thông thái và thưa:
- Thưa thầy, con là người tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Để chứng minh điều đó, con đã để con lừa của con bên ngoài mà không cần phải cột dây lại, dù con biết ở đây có nhiều kẻ trộm cắp. Con tin Chúa quan phòng sẽ giúp giữ con lừa của con.
Nhà thông thái ngước mắt lên nhìn chàng trai rồi hỏi:
- Này con, từ bao giờ mà Thiên Chúa bị biến thành kẻ giữ lừa cho con thế ?
Này bạn là người đạo đức thái quá và cuồng tín, từ bao giờ Thiên Chúa bị giản lược thành tấm bùa hộ mệnh chống virus cho bạn thế ?
( xem "Taking Flight" của Lm Anthony de Mello trang 108, câu chuyện số 123  ).
5.Niềm an ủi dựa vào Kinh Thánh :
    Chúa Giêsu phán : "Chỉ có một việc quan trọng mà thôi"( Lc 10,42a )- Đó là lắng nghe Lời Chúa. Ta biết rằng: Kinh Thánh là Lời TC nói với loài người. Tác giả Kinh Thánh là TC vì TC đã chọn và linh ứng cho con người viết nên Kinh Thánh. Kinh Thánh có lời ủi an cho những ai mong được an ủi. Phúc cho những ai tìm về với Kinh Thánh để tìm nguồn hy vọng và sự hướng dẫn trong những giai đoạn khó khăn : "TC là Đấng ủi an"( Rm 15,5 ), "TC yên ủi chúng ta trong cơn khốn khó"( 2 Cr 1,4 ). Chúa Cha đã phái Chúa Giêsu - Con Một của Ngài xuống thế gian để ban cho chúng ta hy vọng và niềm ủi an ( x Jn 3,16-17 ); Kinh Thánh còn mô tả TC là Đấng hằng ngày gánh gánh nặng của chúng ta, tức là TC sự cứu rỗi của chúng ta ( x Tv 68,19 ). Những người kính sợ TC có thể tin tưởng mà nói rằng: "Tôi hằng để TC trước mặt tôi, tôi chẳng hề lay chuyển vì Ngài ở bên hữu tôi"( Tv 16,8 ).
    Những câu Kinh Thánh như trên cho thấy TC dành cho loài người tình yêu thương sâu đậm. Rõ ràng TC luôn ước muốn làm dịu nỗi đau của con người trong những lúc buồn khổ. Tác giả Thánh Vịnh viết: "Hãy trao gánh nặng ngươi cho TC, Ngài sẽ nâng đỡ ngươi; Ngài sẽ chẳng hề cho người công chính bị lung lay chao đảo"( Tv 55,22 ).
    Việc học Kinh Thánh cũng cho ta lòng tự trọng cần thiết để bền chí bất chấp những khó khăn riêng và để có một quan điểm tích cực về cuộc đời.
    Khi lòng đau đớn vì một nguyên nhân nào đó, ta có thể tìm an ủi qua lời cầu nguyện với TC. Trong cơn Đại dịch, ngẫm đọc lại Lời Chúa - Điều này có thể cất đi gánh nặng của chúng ta.
    Trong những cảnh ngộ cực kỳ khó khăn, đặc biệt khi sức khỏe bị nguy kịch, thông thường không một giải pháp nào giải quyết được mọi việc cho ổn thỏa. Với sức riêng có thể chúng ta không biết đích xác phải quay về đâu. Nhiều người thấy rằng sau khi làm tất cả những gì sức con người có thể làm, thì việc quay về với TC qua lời cầu nguyện đem lại niềm ủi an lớn và đôi khi dẫn đến những giải pháp bất ngờ ( x I Cr 10,13-14 ).
    Cuối cùng, ta nghe lời của Chúa Giêsu quả quyết : "Thầy nói với anh em nhiều điều, để trong Thầy anh em được bình an. Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian "( Jn 16,33 ). 
"Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi"( Jn 14,27 ).
JB.SĨ TRỌNG.

Nguồn tham khảo :
       -Thánh Kinh Cựu và Tân ước.
       -Trung tâm mục vụ TGP Sài Gòn.
       -Cuốn "Taking Flight" của Cha  Anthony de Mello.

Bước chân con

Ba đang nhìn thấy con yêu,
Bước nhanh trên phố nắng chiều lung linh
Đàn chim vỗ cánh tự tình,
Sông hồ, khe suối, cây xanh vẫy chào
Đêm về vời vợi ánh sao,
Không gian tỏa sáng xen vào giữa khuya
Bầu trời lạ lẫm chưa kìa !
Ngàn sao lấp lánh phân chia tứ bề
Núi rừng phủ tắm cơn mê,
Chờ bình minh đến gọi kề nắng mai
Hình như qua một ngày dài,
Đôi  chân  con  vẫn  miệt  mài  bước  đi ?

JB.Sĩ Trọng.


Thứ Tư, 7 tháng 4, 2021

Nợ và ơn tha thứ

Bắt đầu bài giáo lý, ĐTC nhắc lại rằng chính con người là những kẻ mắc nợ Thiên Chúa, bởi vì chúng ta nhận mọi sự từ Chúa, từ những điều tự nhiên đến các ân sủng.
Chúng ta là những người mắc nợ Thiên Chúa và tha nhân
Sự sống của chúng ta không chỉ là điều được mong muốn nhưng còn được Thiên Chúa yêu thương. Thật sự là không có chỗ cho sự kiêu căng khi chúng ta chắp tay cầu nguyện. Không có một Giáo hội do “con người tự tạo” nên, không có những con người tự hiện hữu. Tất cả chúng ta là người mắc nợ Thiên Chúa và mắc nợ tha nhân, những người đã tạo nên những điều kiện sống thuận lợi cho chúng ta. Căn tính của chúng ta được hình thành từ những điều thiện hảo mà chúng ta nhận được.
Con người luôn có những sai lỗi cần được tha thứ
Khi cầu nguyện, chúng ta học “cám ơn”. Và rất nhiều lần chúng ta quên “cám ơn”. Khi cầu nguyện, chúng ta học “cám ơn” và cầu xin Chúa tốt lành với mình. Dù rất cố gắng, thì chúng ta vẫn luôn có một khoản nợ không thể xóa nỗi đối với Chúa, khoản nợ mà chúng ta sẽ không bao giờ có thể trả được: đó là Người yêu chúng ta vô cùng, nhiều hơn chúng ta yêu Người. Và rồi, dù chúng ta cam kết sống theo các giáo huấn Kitô giáo, thì trong cuộc sống của chúng ta sẽ luôn có điều gì đó mà chúng ta phải xin tha thứ: chúng ta hãy nghĩ đến những ngày đã trôi qua trong sự lười biếng, hãy nghĩ đến những giây phút mà sự giận dữ tràn ngập tâm lòng chúng ta… Tiếc là những kinh nghiệm như thế này không phải là hiếm hoi đối với chúng ta và vì thế chúng ta cầu xin: “Lạy Chúa Cha, xin tha các nợ của chúng con”. Chúng ta xin Chúa tha thứ.
Tha thứ như đã được thứ tha
Lời cầu nguyện này có thể dừng lại ở phần thứ nhất này, với lời xin “xin tha các nợ của chúng con”. Nhưng Chúa Giêsu củng cố lời cầu xin này bằng phần thứ hai, hợp nhất với phần thứ nhất. Mối quan hệ của lòng nhân từ theo chiều dọc của Thiên Chúa bị khúc xạ và muốn được chuyển thành một mối quan hệ mới mà chúng ta sống với anh em của mình: mối liên hệ theo chiều ngang. Thiên Chúa tốt lành mời gọi chúng ta trở thành tất cả những người tốt lành. Hai phần của lời cầu nguyện liên kết với nhau bằng liên từ triệt để “như”: chúng ta cầu xin Chúa tha nợ cho chúng ta, tha tội cho chúng ta, “như” chúng ta tha cho bạn bè của chúng ta, cho những người sống với chúng ta, cho những người xung quanh chúng ta, cho những người đã làm điều gì đó không hay không tốt cho chúng ta.
Thiên Chúa tha thứ tất cả và luôn luôn tha thứ
Mỗi Kitô hữu biết rằng họ được ơn tha thứ các tội lỗi. Tất cả chúng ta biết điều này: Thiên Chúa tha thứ tất cả và luôn luôn tha thứ. Khi Chúa Giêsu tường thuật với các môn đệ về gương mặt của Thiên Chúa, Người phác thảo nó với những thành ngữ của lòng thương xót dịu dàng. Chúa nói rằng trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì một đám đông công chính không cần hoán cải (x Lc 15,7.10). Không có chỗ nào trong các Tin mừng cho thấy rằng Thiên Chúa không tha thứ các tội lỗi của những người thật sẵn sàng và cầu xin được Người ôm lại trong vòng tay của Người.
Nếu không tha thứ sẽ không được thứ tha
Ân sủng của Thiên Chúa, dồi dào, nhưng luôn đòi hỏi sự dấn thân. Ai đã nhận được nhiều, phải học cách cho đi thật nhiều và không giữ lại cho mình, không chỉ cho bản thân những gì họ đã nhận được. Những người đã nhận được rất nhiều phải học cách cho đi rất nhiều. Không phải là tình cờ mà ngay khi trình bày với chúng ta “Kinh Lạy Cha”, trong 7 thành ngữ được dùng, Tin mừng thánh Mátthêu dừng lại để nhấn mạnh thành ngữ về sự tha thứ huynh đệ: “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em (Mt 6,14-15).
Xin Chúa ban ơn để biết tha thứ
Điều này thật là mạnh mẽ! Tôi nghĩ: đôi khi tôi nghe người ta nói: "Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho người đó! Tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho những gì họ đã làm với tôi! " Nhưng nếu bạn không tha thứ, Chúa sẽ không tha thứ cho bạn. Bạn đóng cửa lại. Chúng ta hãy nghĩ, chúng ta có thể tha thứ không, hay chúng ta không tha thứ. Khi tôi ở tại một giáo phận khác, một linh mục đã nói với tôi cách đau khổ rằng cha đã đi ban các bí tích cuối cùng cho một bà cụ đang hấp hối. Người phụ nữ tội nghiệp không thể nói được. Và vị linh mục nói với bà: "Bà ơi, bà có ăn năn về các tội không?" Người phụ nữ nói có; bà không thể xưng tội nhưng bà nói có. Thế là đủ. Và rồi vị linh mục hỏi: "Bà có tha thứ cho người khác không?" Và người phụ nữ, trên giường chết đã nói: "Không". Linh mục cảm thấy đau khổ. Nếu bạn không tha thứ, Chúa sẽ không tha thứ cho bạn. Chúng ta đang ở đây, hãy suy nghĩ xem chúng ta có tha thứ không, chúng ta có khả năng tha thứ không. Chúng ta nói: Thưa cha, con không thể làm điều đó, bởi vì những người đó đã khiến con rất ... "-" Nhưng nếu con không thể làm được, hãy xin Chúa ban cho con sức mạnh để làm điều đó: Lạy Chúa, xin giúp con tha thứ. "
Tình yêu mời gọi tình yêu, tha thứ gọi mời tha thứ
Ở đây chúng ta tìm thấy sự ràng buộc giữa tình yêu dành cho Chúa và tình yêu tha nhân. Tình yêu mời gọi tình yêu, tha thứ gọi mời tha thứ. Trong Tin Mừng thánh Mátthêu,  chúng ta còn tìm thấy một dụ ngôn nói rất mạnh mẽ về sự tha thứ huynh đệ (x 18,21-35). Chúng ta hãy lắng nghe dụ ngôn.
Dụ ngôn kể rằng: có một người đầy tớ mắc nợ  vua của mình một khoản nợ lớn: 10 ngàn yến vàng! Một khoản tiền không thể trả. Nhưng điều kỳ diệu xảy ra, và người đầy tớ đó không phải là nhận được sự gia hạn thanh toán nợ nần, mà là tha nợ hoàn toàn. Một ân sủng bất ngờ! Nhưng chú ý, chính người đầy tớ đó, ngay lập tức sau đó, nổi giận với một người anh em nợ anh ta 100 quan tiền, và mặc dù đây là một số tiền có thể trả được, anh ta không chấp nhận lời xin lỗi hay cầu xin. Do đó, cuối cùng, ông chủ gọi anh ta lại và đã lên án anh ta. Bởi vì nếu bạn không cố gắng tha thứ, bạn sẽ không được tha thứ; nếu bạn không cố gắng yêu thương, ngay cả bạn cũng sẽ không được thương yêu.
Không phải mọi thứ đều được giải quyết bằng công lý
Chúa Giêsu đưa sức mạnh của sự tha thứ vào các mối quan hệ của con người. Trong cuộc sống, không phải mọi thứ đều được giải quyết bằng công lý. Đặc biệt là ở nơi chúng ta phải đặt một rào cản trước sự ác, ai đó phải yêu thương vượt khỏi sự cần thiết hay nghĩa vụ, để bắt đầu một câu chuyện về ân sủng một lần nữa. Sự ác biết cách trả thù, và nếu chúng ta không chặn nó lại, nó có nguy cơ lây lan và làm nghẹt thở cả thế giới.
Thay luật “ăn miếng trả miếng” bằng luật yêu thương
Chúa Giêsu thay thế luật “ăn miếng trả miếng” - những gì bạn đã làm với tôi, tôi làm lại với bạn -, bằng luật yêu thương: những gì Chúa đã làm cho tôi, tôi trả lại cho bạn! Hôm nay, trong Tuần mừng lễ Phục Sinh rất tốt, rất vui này, chúng ta hãy suy nghĩ: tôi có khả năng tha thứ không, và nếu tôi cảm thấy tôi không thể, hãy xin Chúa ban cho tôi ơn biết tha thứ, bởi đó là ân sủng.
Viết một câu chuyện hay đẹp bằng sự tha thứ
Thiên Chúa ban ơn cho mọi Kitô hữu để viết một câu chuyện hay trong cuộc sống của anh em mình, đặc biệt là những người đã làm điều gì đó khó chịu và sai trái. Với một lời nói, một cái ôm, một nụ cười, chúng ta có thể truyền lại cho người khác điều quý giá nhất mà chúng ta đã nhận được. Điều quý giá nhất chúng ta đã lãnh nhận là gì? Đó là sự tha thứ, ơn mà chúng ta cũng có thể trao cho người khác .
Hồng Thủy
Theo https://www.vaticannews.va

                                 Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Thứ Hai, 5 tháng 4, 2021

Đời sống Hôn nhân Gia đình

                           ( Giáo lý HN )
1. Tương quan vợ chồng : 
Lời Chúa trong thư của Phaolô gởi tín hữu Côlôsê : "Trong gia đình, vợ phải phục tùng chồng theo đúng bổn phận của người tin Chúa. Chồng phải yêu vợ, đừng đối xử khắt khe với vợ"( Cl 3,18-19 ).
Ý nghĩa những từ "vâng phục" và "yêu" bao gồm những khía cạnh nào ? Mối tương quan hai chiều được diễn tả qua hai từ "yêu" và "vâng phục" có cho thấy sự bình đẳng giữa vợ và chồng không ? Phước hạnh nào Chúa dành cho gia đình mà vợ và chồng đều sống theo mẫu mực này ?
Phần Kinh Thánh chúng ta đọc hôm nay nói về bổn phận của người tin Chúa đối với gia đình và xã hội. Trước hết là liên hệ vợ chồng, Phaolô dạy : "Vợ phải phục tùng chồng" - Lời khuyên này có thể nói đi chung với câu : "Theo đúng bổn phận của người tin Chúa". Đối với người tin Chúa, vợ vâng phục chồng không phải vì bị ép buộc nhưng vì biết đó là điều thích hợp, đúng với  lời Chúa dạy. Mỗi người thực hiện theo đúng vai trò của mình.
Lời khuyên dành cho người chồng là : "Hãy yêu vợ". Chữ "yêu" trong câu này mang ý nghĩa đặc biệt hơn chữ "yêu" thông thường. Đây không phải là tình yêu ích kỷ hoặc hời hợt, nhưng là tình yêu cao cả, vị tha, như tình yêu Chúa dành cho chúng ta. Trong thư gởi tín hữu Êphêsô, Phaolô cũng khuyên : "Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình như Chúa Kitô yêu Hội Thánh, hiến mình vì Hội Thánh"( Ep 5,25 ). Không những khuyên các ông chồng trong Chúa phải yêu vợ, Phaolô còn nhắc ; "Đừng đối xử khắc khe". Phaolô viết thư này cho những người sống trong một xã hội trọng nam khinh nữ, tuy nhiên cũng áp dụng cho chúng ta ngày nay, nhất là đối với những gia đình mà người chồng có nhiều uy quyền trong khi người vợ bị xem thường hoặc bị bỏ quên. Phaolô nhấn mạnh rằng Chúa đặt người chồng làm chủ trong gia đình, nhưng chồng không nên dùng quyền đó cư xử cay nghiệt với vợ.
Trong Kinh Thánh các lời khuyên về bổn phận bao giờ cũng nhấn mạnh đến ý hỗ tương : Có qua, có lại - Vợ phải thuần phục chồng, nhưng chồng phải yêu thương vợ. Người chồng không thể trông mong vợ phục tùng nếu không đối xử với vợ bằng tình yêu thương. Ngược lại, người vợ cũng không thể trách chồng thiếu tình yêu thương nếu chính người vợ không kính nể và phục tùng chồng.
Dù đây là lời khuyên dành cho vợ chồng, nhưng chúng ta cũng có thể áp dụng trong những mối liên hệ khác :
          a. Một mối liên hệ tốt đẹp bao giờ cũng phải có hai chiều, người này nghĩ đến người kia và mỗi người đều làm trọn phần trách nhiệm của mình.
          b. Cư xử với mọi người trong tình yêu thương và làm đúng bổn phận, vì vâng lời Chúa chứ không phải bị bắt buộc.


2. Cha mẹ và con cái :
Trong thư gởi tín hữu Côlôsê, Thánh Phaolô dạy rằng : "Con cái phải luôn luôn vâng lời cha mẹ vì điều đó đẹp lòng Chúa. Cha mẹ đừng trách mắng con cái quá nặng nề, khiến chúng nản lòng"( Cl 3,20-21 ). Tôi không hiểu vì sao sách mới lại dịch : "Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng". "Ngã lòng" khác với "nản lòng", chữ "nản lòng" có vẻ dễ hiểu hơn chứ ? Trong thư gởi tín hữu Êphêsô Thánh Phaolô viết : "Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo."Hãy tôn kính cha mẹ", đó là điều răn thứ nhất có kèm theo Lời hứa : "Để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này"( Ep 6,1-3 ).
Tại sao có nhiều người con không vâng phục cha mẹ ? Việc cha mẹ quá nghiêm khắc đối với con cái thường đưa đến hậu quả nào ? Làm thế nào để có sự gần gũi và cảm thông giữa cha mẹ và con cái, nhất là trong xã hội ngày nay ?
Trong mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái, Phaolô cũng nhấn mạnh về tinh thần hỗ tương; nghĩa là mỗi bên đều có bổn phận đối với nhau: Con cái phải vâng lời cha mẹ, cha mẹ phải yêu thương và tế nhị đối với con cái.
          a. Bổn phận làm con : Thông thường người Việt ( nhất là dân ngoại ) hầu như ai cũng có quan niệm "ích kỷ", muốn con cháu sau này thờ kính mình là được, còn trên hết, cao hơn nữa đáng phải tôn thờ, họ không cần nghĩ tới. Chính vì vậy họ cho rằng đạo Công giáo đi ngược lại truyền thống Á đông là không thờ cha kính mẹ - Một ngộ nhận lớn ! Thật ra, nền tảng của đức hiếu thảo là lòng kính sợ Thiên Chúa, Đấng là nguồn gốc mọi tình phụ tử trên trời dưới đất. Việc thờ kính ông bà tổ tiên hoàn toàn không có gì mâu thuẩn với giáo huấn của Hội Thánh.
Là con, chúng ta phải "luôn luôn vâng lời cha mẹ". Chữ "luôn luôn" hàm ý trong tất cả mọi trường hợp. Chúng ta phải vâng lời cha mẹ trong mọi trường hợp, ngoại trừ cha mẹ bảo chúng ta làm những điều trái với Lời Chúa dạy. "Có những trường hợp việc vâng lời cha mẹ phải nhường bước cho việc vâng lời Thiên Chúa; ví dụ : chẳng may cha mẹ muốn con cái làm điều gì trái luật Chúa, thì con cái không được tuân theo"( Sách Giáo lý Dự tòng GP Xuân Lộc, trang 63 ). Chúa đã đặt một thẩm quyền trong mỗi gia đình, chúng ta phải vâng phục thẩm quyền đó. Không vâng lời cha mẹ cũng là không vâng lời Chúa vì Thánh Kinh dạy : "Chẳng có quyền nào không đến bởi Thiên Chúa"( Rm 13,1 ). Chúng ta phải vâng lời cha mẹ dù cha mẹ đã tin Chúa hay chưa. Nếu chúng ta đã tin Chúa nhưng cha mẹ chưa tin, chúng ta vẫn phải vâng lời, điều gì quá trái nghịch với đạo thì từ từ chúng ta xem xét và sẽ tìm cách thuyết phục sau, đừng nóng tính vội vàng muốn cắt đứt quan điểm của họ vì như thế là không có lợi, tác dụng sẽ trái ngược lại. Nếu vì hoàn cảnh, chúng ta không sống với cha mẹ nhưng sống với anh chị, chú bác, hoặc người đỡ đầu, chúng ta phải xem những người đó như cha mẹ và phải vâng lời họ, vì những người đó là thẩm quyền Chúa đặt trên chúng ta.
          b. Bổn phận làm cha mẹ : Đối với các bậc làm cha mẹ, Thánh Phaolô khuyên : "Đừng trách mắng con cái quá nặng nề, khiến chúng nản lòng"( Cl 3,21 ). Ta cũng gặp trong thư gởi Êphêsô, Thánh Phaolô viết : "Những bậc làm cha mẹ, đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy"( Ep 6,4 ). Vì con cái phải vâng lời cha mẹ trong mọi sự nên cha mẹ dễ đi đến chỗ độc đoán, bắt con cái phải làm theo ý mình. Do đó Phaolô khuyên cha mẹ đừng làm cho con nản lòng. Nhiều bậc cha mẹ thường đánh con khi nóng giận, hoặc làm hay nói những điều làm cho con uất ức, vì vậy Phaolô nhắc : "Đừng chọc giận con cái". Cha mẹ thường "chọc giận" con cái bằng nhiều cách mà họ không biết, chẳng hạn như bắt con phải chiều theo ý mình cách quá đáng, làm cho con xấu hổ trước mặt người khác, không thông cảm với con, không chịu nghe con phát biểu ý kiến...Ngày nay cha mẹ khác với thời xưa, cha mẹ cần phải đối thoại với con cái, xem con cái như là bạn để biết lắng nghe và chia sẻ những ưu tư, những dự tính. Người làm cha làm mẹ không thể thiếu con được, dù đi đâu, ở đâu, lòng họ vẫn luôn hướng về những người con của mình.
Lời khuyên của Phaolô cho ta thấy cha mẹ có quyền trên con cái, nhưng quyền đó sử dụng trong yêu thương và thông cảm. Ngược lại, con cái phải vâng lời cha mẹ, nhưng vâng lời vì kính yêu chứ không phải vì bị bắt buộc.
Nguyên tắc này cũng áp dụng trong những mối liên hệ khác : Người có quyền phải yêu thương, thông cảm; và người dưới quyền phải vâng phục trong mọi sự.

3.Cầu nguyện :
Cám ơn Chúa về tình yêu Chúa dành cho con. Xin giúp con yêu thương và sẵn sàng hy sinh vì người khác, chứ đừng ích kỷ chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng mình.
Lạy Chúa, xin ban tình yêu thương và hiểu biết để con sống đúng với vai trò Chúa đặt để trong gia đình, trong xã hội.

JB.SĨ TRỌNG.


Thứ Bảy, 3 tháng 4, 2021

Ngài là ai ?

 Suy tư phải có một chút gì đó độc, lạ mới gọi là suy tư. Suy tư mà thường quá, quen thuộc quá, không gọi là suy tư, vì những điều đó hầu như ai cũng biết. Tuy nhiên, có những điều bình thường nhưng đôi khi có người vẫn không biết, nên cũng cần phải phổ biến, phải chia sẻ. Dưới đây là những suy tư của một Linh mục, Ngài thuộc dòng Salêdiêng Don Bosco, những suy tư này khá độc đáo và mới lạ. JB xin giới thiệu đến quý độc giả cuối mùa Chay Thánh này, mong sao chúng ta có những cảm nghiệm về Chúa của chúng ta với tình yêu, tính cách và quyền uy của Ngài.


Thứ sáu Tuần Thánh ( 2.4.2021 ), cả thế giới di chuyển trong yên tĩnh và lặng lẽ...

ĐỨC KITÔ LÀ AI ?

Theo môn Hóa học : Ngài đã biến nước thành rượu.
Theo môn Sinh học : Ngài được sinh ra từ một Trinh nữ.
Theo môn Vật lý học : Ngài bác bỏ luật lực hút của trái đất khi Ngài lên trời.
Theo môn Kinh tế học : Ngài bác bỏ luật thiếu hụt lợi nhuận qua việc cho 5 ngàn người ăn no nê chỉ với 2 con cá và 5 chiếc bánh.
Theo ngành Y học : Ngài chữa lành người bệnh, làm sáng mắt kẻ mù mà không cần dùng thuốc hay phương pháp gây mê.
Theo môn Lịch sử học : Ngài là khởi nguyên và là cùng đích.
Như thế Ngài là ai ?
Ngài là Đức Giêsu Kitô ! Một nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.
Ngài không có kẻ hầu người hạ nhưng mọi người đều gọi Ngài là Chúa.
Ngài không có bằng cấp học vị nhưng mọi người gọi Ngài là Thầy.
Ngài không sử dụng thuốc tây, thuốc nam...nhưng mọi người gọi Ngài là Thầy thuốc.
Ngài không có quân đội, thế mà các vua chúa kính sợ Ngài.
Ngài không hề đánh thắng một trận chiến nào, nhưng Ngài thu phục cả thế giới bằng tình yêu và bằng lời giảng dạy.
Ngài không phạm một lỗi gì, nhưng người ta đã đóng đinh Ngài.
Ngài được chôn tán trong mồ, nay Ngài vẫn đang sống.
Thật là một diễm phúc cho con khi được phục vụ Vị Vua này, là Đấng hằng yêu thương chúng ta.

CON XIN LỖI CHÚA RẤT NHIỀU. XIN CHÚA THA THỨ CHO CON VÌ BIẾT BAO LẦN CON ĐÃ PHẢN BỘI CHÚA VÀ GÂY THƯƠNG TÍCH CHO CHÚA VÌ TỘI LỖI CỦA CON.

Thanh Joseph.
( Salesians of Don Bosco )