Thứ Ba, 28 tháng 7, 2020

Câu chuyện 17

TÙ NHÂN ĐÁNG TỘI


Công tố viên hỏi :
- Tù nhân ở vành móng ngựa, Anh bị buộc tội lôi kéo người ta không giữ luật truyền thống và phong tục tôn giáo thánh thiện của chúng ta. Anh bào chữa thế nào ?
- Thưa ngài, đáng tội.
- Và thường xuyên lui tới công khai với bọn lạc giáo, gái điếm, tội nhân, những người thu thuế tống tiền, những kẻ thực dân xâm chiếm nước ta - tắt một lời, những kẻ bị tuyệt thông. Anh bào chữa thế nào ?
- Thưa ngài, đáng tội.
- Và cũng công khai chỉ trích phỉ báng những người chức quyền trong Giáo Hội của Thiên Chúa. Anh biện hộ thế nào ?
- Thưa ngài, đáng tội.
- Cuối cùng, Anh bị buộc tội duyệt lại, sửa chữa và đặt vấn đề những tín điều bí mật của chúng ta. Anh biện hộ thế nào ?
- Thưa ngài, đáng tội.
- Này tù nhân,tên ngươi là gì ?
- Thưa ngài, tên tôi là Giêsu Kitô.

Vài người khiếp sợ khi thấy tôn giáo của mình được thực hành cũng như khi nghe nó bị ngờ vực.

( Trích từ cuốn "Taking Flight" của Lm Anthony de Mello, trang 138 ).

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

Tặng anh chị Ánh
















Em biết  anh làm  thơ hay  lắm,
Nhớ thời cắp sách tuổi sinh viên
Có người rất dịu dàng đằm thắm
Say nắng, làm anh cảm mến liền.

Người ấy hôm nay bước bên anh,
Một đời chung thủy đẹp như tranh
Mắt  môi  mơ  mộng  còn  ghi  lại,
Cái thuở cùng nhau được học hành.

Nghe nói miền Trung có ngôi trường 
Với  nhiều  kỷ  niệm  dệt yêu thương
Sông Hàn - Thành phố nghiêng mình đón
Gió   ký   ức   xưa   thổi   muộn   màng.

Sách  vở  theo  anh  bước  đăng  trình,
Ngôi trường nổi tiếng : Phan Chu Trinh
Anh  đi   để  lại   nhiều   nhung  nhớ,
Những phút giây qua đượm thắm tình.

Anh  đã  không  rời  đất  quê hương,
Mặc dù  đi đến  khắp  muôn phương
Thương tình gia tộc cùng huyết nhục
Gắn  bó   ưu  tư,  mộng  ước  thường.

Anh   chị   giờ   đây   tuổi   lớn   rồi,
Vẫn  còn  xinh  xắn,  nụ  cười  tươi
Phong cách năng động, nhờ cách sống
Tỏa  nét  thanh  tao  giữa  cuộc  đời.

Xin được tri ân những tháng ngày
Bên  đời  âu  yếm  nhẹ  cầm  tay
Mong  sao  anh  chị  luôn tươi trẻ 
Sức khỏe, yêu thương mãi đong đầy.

JB.Sĩ Trọng.



Chập  chờn  bóng  tối  với  đêm  đen, 
Leo   lét    từ    xa    một    ánh    đèn
Muốn ngủ mắt mình không khép được
Tin  buồn  ập  đến : Một  người  quen...

Một người quen vĩnh viễn ra đi : Nhận được hung tin anh Nguyễn Như Ánh qua đời vì Covid, lúc 9 giờ tối ngày 06.8.2021. Như thế là mất đi một người anh thân yêu. Ở đời không phải ai cũng sống được như anh. Thật thương thương lắm ! Một người anh hiền lành, nhân hậu, một người bạn trí thức, hiểu rộng mà khiêm tốn, không bao giờ tự khoe mình. Chẳng biết làm gì cho anh được nữa, chỉ biết cầu nguyện cho anh thôi. Nhà mình đã xin Lễ cho anh. Thành tâm chia buồn với chị Thanh.

        Thánh Lễ đưa chân tiễn một người, 
        Về   miền   đất   lạ   chốn   xa   xôi
        Không gian tĩnh mịch bình yên quá
        Thời  buổi  Covid.   Thế  được  rồi !

Chúc anh ra đi trong thanh thản và bình an.

JB.Sĩ Trọng.  07.8.2021.


NGUYỄN NHƯ ÁNH - NGƯỜI ĐOẠT GIẢI OSCAR
           ( Bài viết này của tác giả Hạ Huyền )

(TNTS) Cách đây vài năm, trong một lần trò chuyện với Nguyễn Như Ánh - một Việt kiều và là chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực kỹ thuật điện ảnh ở Đức - tôi có hỏi anh về việc dự định về quê hương thành lập công ty riêng. Khi đó, anh úp úp mở mở: Vâng, tôi đang có một số dự tính, nhưng cho phép giữ bí mật nhé.
Bẵng đi một thời gian, qua báo chí tôi mới biết Nguyễn Như Ánh thành lập Công ty Ánh Việt Greenpost tại TP.HCM. Chính công ty này đã tham gia phần kỹ thuật màu sắc, hình ảnh trong khâu thực hiện hậu kỳ cho phim Sài Gòn nhật thực, rồi Dòng máu anh hùng. Ngoài ra, anh còn hợp tác cùng Trung tâm Nghiên cứu nghệ thuật và Lưu trữ điện ảnh tại TP.HCM thực hiện dự án phim trường Ánh Việt Greenpost. Hay Nguyễn Như Ánh còn giới thiệu và chủ trương áp dụng công nghệ làm phim 5D (phim có mùi) tại VN. Nhiều người trong giới biết Như Ánh là kỹ sư điện ảnh, nhưng cũng không mấy người biết anh là tác giả của chiếc camera Arriflex 535, từng giật giải Oscar kỹ thuật năm 1985 và đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong nhiều hãng điện tử của Đức.

Là người gốc Huế, năm 1970, Nguyễn Như Ánh bỏ tiền túi, tự sang du học tại Đại học Dormun, CHLB Đức. Anh theo học chuyên ngành Điện tử truyền tin, tốt nghiệp vào năm 1976 và quyết định sinh sống, định cư tại đây. Hỏi anh: Chắc anh tốt nghiệp xuất sắc nên mới tìm ngay được việc làm và có nhiều nơi mời như thế? Anh trả lời thật thà: Không, phải nói thật là tôi tốt nghiệp chỉ thuộc loại trung bình thôi. Nhưng khác với một số quốc gia, tại Đức, người ta không đề cao sự xuất sắc về bằng cấp. Người Đức tuyển người chủ yếu theo khả năng làm việc thông qua phỏng vấn. Tôi cũng khá ngạc nhiên vì họ còn trò chuyện, khuyên tôi không nên làm lâu ở một chỗ mà nên làm việc ở nhiều công ty để tích lũy kinh nghiệm.

Nơi đầu tiên mà chàng kỹ sư trẻ Như Ánh làm việc là bộ phận nghiên cứu và thiết kế của một công ty chuyên sản xuất máy tia laser để đo lường vận tốc, chất liệu của vật liệu, máy móc. Cũng cần nói thêm, sau này người ta còn ứng dụng phương pháp vừa nêu để thiết kế, sản xuất các máy bắn tốc độ xe hơi cho cảnh sát giao thông, hay dùng để đo trọng lượng của máy bay, trọng lượng của xe vận tải…

Sau hai năm đầu làm việc, một công ty khác biết đến Như Ánh và mời anh làm việc, đảm nhiệm vai trò giám đốc ở bộ phận nghiên cứu thiết kế về các thiết bị điện tử đo lường cho kỹ thuật môi trường. Vào khoảng thời gian đó, do Đức đang gặp khó khăn nhiều trong môi trường, nên họ tập trung vào lĩnh vực này và công nghệ phát triển rất mạnh. Công việc thuận lợi, ổn định. Nhưng vào năm 1980, người con của Như Ánh đến tuổi đi học. Đắn đo, suy nghĩ, cuối cùng anh quyết định cùng gia đình chuyển đến Munich sinh sống, để con mình có điều kiện học hành tốt hơn. Như Ánh cũng không biết trước, do sự chuyển biến này, mà đường công danh, sự nghiệp của anh bước qua giai đoạn mới, mang đầy dấu ấn thành công.

Nói về việc mình được nhận vào hãng ARRI nổi tiếng, Như Ánh thổ lộ: Đây cũng là sự tình cờ, năm 1980, tôi quyết định chuyển về Munich là vì  con tôi. Tôi viết đơn xin việc vào hãng ARRI. Sau khi xem xét, họ nhận tôi và bố trí làm việc ở bộ phận thiết kế hệ thống hỗ trợ và kỹ thuật máy quay phim. Làm việc được khoảng một năm, hãng giao cho tôi dự án mới về thiết bị điều khiển tự động hóa về đèn, âm thanh, cần cẩu cho các studio điện ảnh và truyền hình.

Sau hai năm mày mò nghiên cứu, Như Ánh và các cộng sự thực hiện thành công dự án. Vì thế, đến năm 1982, anh được Hội đồng quản trị của ARRI cử làm giám đốc kỹ thuật điện tử. Điều đáng nói là vào thời điểm đó, Như Ánh là người ngoại quốc duy nhất trong bộ phận nghiên cứu thiết kế của “gã khổng lồ” và cũng là người nhỏ con nhất. Nhắc lại chuyện này, Như Ánh cười vui. Đó là niềm vui của “người nhỏ con nhất” đang gặt hái thành công tại một hãng lớn không chỉ của Đức mà còn của thế giới.

Lâu nay, có nhiều ý kiến cho rằng, người Đức thường khá tự tôn và có ý phân biệt, nếu không muốn nói là xem thường người nước ngoài. Nhưng thực tế không hẳn vậy. Như Ánh nói: Người Đức có đầu óc thực dụng rất cao. Đúng là họ cũng có cái nhìn khác về người nước ngoài, nhưng nếu bạn làm việc hiệu quả, có khả năng tổ chức, luôn sáng tạo những gì mới nhất, mang lại lợi ích lâu dài, thì họ sẽ sử dụng mình. Hơn thế, người Đức rất tôn trọng kỷ luật, tuân thủ rất nghiêm túc các quyết định của cấp trên. Nói về vị trí lãnh đạo của mình, Như Ánh cho biết: Có thể sau lưng mình họ bàn tán điều này điều nọ, nhưng người Đức rất kỷ luật. Khi họp có thể bàn bạc, thảo luận, nếu có ý kiến không đồng ý, có thể tranh luận song phẳng, nhưng khi tôi đã quyết thì mọi người đều tôn trọng thực hiện. Trong công việc thì họ rất nể tôi, kể cả cấp trên. Thậm chí nhiều ban bệ khác còn nhờ tôi thuyết phục cấp trên về những dự án, hay vấn đề nào đấy của họ mà cấp trên không chấp thuận.

Như Ánh không giấu giếm niềm vui, sự hãnh diện vì trong thời gian làm Giám đốc Thiết kế kỹ thuật điện của hãng ARRI, anh đã sáng tạo được máy quay phim đời mới Arriflex 535. Đây là chiếc máy hiện đại nhất lúc bấy giờ, có với chức năng điện tử có thể dùng computer để lập trình, điều khiển, giúp con người sáng tạo nghệ thuật đầy hiệu quả. Riêng bộ phận elktronics variable shutter (bộ cửa chập tự động) của Arriflex 535 được nhận giải Oscar kỹ thuật vào năm 1985. Khỏi phải nói, giới kỹ thuật điện ảnh thế giới, kể cả các studio lớn ở Hollywood lúc đó cũng đánh giá cao chiếc máy này. 

Những tưởng sự nghiệp của mình sẽ gắn bó cùng ARRI, nhưng những yếu tố bên ngoài đã tác động đến nhiều công việc của Nguyễn Như Ánh sau này. Đấy là vào khoảng năm 1998, hãng ARRI gặp khủng hoảng về tổ chức. Hai ông chủ của hãng không thỏa thuận được với nhau, vì thế nhiều công trình, dự án bị lãng quên nên một số người bị sa thải. Lúc ấy Như Ánh còn được hội đồng quản trị giao phụ trách cả bộ phận cơ, quang học để tiếp tục thực hiện các dự án. Để tháo gỡ những bế tắc, anh kêu gọi, mời các công ty khác hợp tác. Nhân cơ hội đó, anh còn thành lập công ty riêng chuyên tư vấn, thiết kế mẫu máy cho ARRI (sau này là cho nhiều công ty khác). Dấu ấn cuối cùng của Như Ánh tại “ông lớn” này là chiếc máy ARRICAM. Trong đó có bộ phận videoassist lấy hình ảnh qua video xem trước khi dựng phim để tiết kiệm chi phí.

Một vài lần từ Đức trở về VN, Nguyễn Như Ánh hiểu và biết nền điện ảnh nước nhà còn nhiều khó khăn. Với mong muốn góp chút ít công sức cho sự phát triển trong lĩnh vực này, anh từng làm việc với Cục Điện ảnh VN và một số Cty XNK văn hóa, hợp tác trong đào tạo và tư vấn kỹ thuật điện ảnh. Dù vậy, không phải mọi việc đều thuận lợi. Có lần anh tư vấn cho phía Việt Nam nên mua thiết bị điện ảnh như thế nào, nhưng lại vướng mắc về cơ chế. Ví dụ xin 1 tỉ đồng để mua máy, đến khi duyệt xong đã mất hơn 1 năm, khi ấy có thể loại máy mình mua đã lạc hậu. Anh nói: Nếu cơ chế uyển chuyển thì vừa đỡ lãng phí vừa có hiệu quả cao. Có lẽ một phần vì lý do này, mà Như Ánh đã quyết định thành lập công ty tại quê hương, để mọi việc có thể nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Một người tài năng đã đóng góp nhiều cho sự phát triển của kỹ thuật điện ảnh Đức, người đó chắc chắn sẽ rất hữu ích cho nền điện ảnh nước nhà.

Hạ Huyền

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2020

Chùm thơ 53

KHÁT MƯA

Tưởng mưa đem cây ra hứng
Ai ngờ trời lại không mưa
Hiên nhà hoa lan héo rụng,
Ngay  từ  đầu  buổi  ban  trưa.



CẢNH NGỘ

Người mơ uống ánh trăng gầy,
Đêm về thuyền mộng chở đầy thơ ca
Thương thay những kẻ không nhà,
Lang thang cuối chợ, la cà đầu sông.



SAU DỊCH COVID

Voi  thong  thả  bỏ  núi  rừng  về  phố,
Dân tham quan dừng bước ở quê nhà
Khu  di  tích  sân  mọc  dày  hoa  cỏ,
Các nhà hàng, cửa tiệm đợi khách qua.


VÔ ĐỀ

Viết  trong  cảm  hứng  đợi  chờ,
Mà không gặp được, ai ngờ thời gian?
Những khi đường rộng thênh thang,
Bước  vào  ngõ  hẹp  lại  càng  khó  đi.

JB.Sĩ Trọng.


NGẪU HỨNG

Ta   có   đây   một   vài   kỉ   niệm,
Với những người đã sống quen thân
Có khoảnh khắc làm ta lưu luyến,
Dù   cách  xa   vẫn  thấy   thật  gần.

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2020

Tìm trong khoảng lặng














Ngày không có Chúa như không nắng ấm,
Đêm không có Ngài thiếu vắng vầng trăng
Ánh  sáng  thế  trần  sao  bằng  Vĩnh  cửu,
Hạnh phúc dương gian sao sánh Vĩnh hằng.

Trong những ngày này phải lặng yên,
Lắng nghe  hơi thở  của thiên nhiên
Chúa  đi   trong  gió   và  trong  lửa,
Đến với  những ai  đang  muộn phiền.

Chúa nguồn năng lượng vượt thời gian,
Nhớ   thuở   xưa   kia   Lễ   Ngũ   tuần
Khi   các   Tông   đồ   đang   tụ   họp,
Ơn   Ngài   đổ   xuống   để   cách   tân.

Chúa là  sức mạnh  của  Đại dương,
Cơn sóng triều dâng vượt vô thường
Cảnh ngộ đêm khuya Ngài bách bộ,
Mặt   hồ   bao   phủ   bởi   làn  sương.

Không ai nhìn thấy Chúa cả ư ?
Đức Phật còn nghe tiếng sấm gừ
Thú dữ trên rừng dừng bước chạy
Ngắm nhìn lá rụng cuối mùa Thu.

Chúa vẫn hiên ngang giữa đất trời,
Tay Ngài sáng tạo, dựng biển khơi
Núi  đồi  sông  suối  quanh  ta  ở,
Vũ  trụ   bao  la   đẹp   rạng   ngời.

Chúa là Thiên Chúa của muôn dân,
Chúa chẳng đâu xa, Chúa thật gần
Bên cạnh anh em thường gặp gỡ,
Mình trần thân trụi, biết đỡ nâng.

Chúa là Thiên Chúa của Tình yêu,
Xúc động  còn hơn  kẻ biết  nhiều
Chạy đến với Ngài trong tĩnh lặng
Tìm  nguồn   an  ủi,  khỏi   cô  liêu.

P/s : Viết giữa mùa dịch bệnh covid, sau buổi gặp Ngọc Nữ bạn của MK và HP.

JB.Sĩ Trọng.


Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2020

Cục đá và cái phao.

( Mừng kính lễ 2 Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ )

1. Lời mở đầu : ( Một chút hóm hỉnh )
Đá nặng, phao nhẹ. Đá chìm, phao nổi. Đá thì đá tảng, nhưng phao thì phao lô ( không phải là phao rin ) - Đá tảng chắc chắn nặng hơn, cứng hơn phao; phao thì nhẹ, trôi nổi, bị gió dập có thể vỡ tung;  phao lô thì không xịn bằng phao rin, nhưng có khi cũng nhờ cái phao mà kẻ gặp nạn bám vào may ra được sống. Nói đùa vậy thôi, Phêrô - Phaolô, hai vị Thánh của chúng ta đều tương xứng như nhau : "mỗi người mỗi vẻ, mười phân vẹn mười" - Người nào cũng có vai trò quan trọng mà Thiên Chúa muốn sử dụng, để làm công cụ thực hiện ơn Cứu độ của Ngài trong nhân loại.

2. Hai con người - Hai trụ cột :
    a.Niềm tin và ân sủng :
Cả hai Thánh Tông đồ Phêrô - Phaolô đều là trụ cột, làm nền móng  vững chắc để xây dựng Giáo Hội.
Chúa chọn và ban ơn cho những ai trong cuộc đời để thực hiện ơn Cứu độ của Ngài cũng thật kỳ diệu. Họ là những con người bình thường nhưng rồi có những việc không tầm thường, vì chính họ mang lấy cả sứ mệnh. Cũng bột ấy, đấu ấy, cũng chất-liệu-con-người nhưng Chúa đã làm nên những chiếc bánh hữu ích giúp con người cảm nếm, nhận biết mà tỉnh ngộ.
Đức Kitô đã tuyển chọn những con người bình dị, yếu đuối; trước khi trở thành Thánh nhân thì họ là những "vô thập toàn", tôi không dám nói là những tội nhân.
Điểm nỗi bậc chúng ta bắt gặp trong Tin Mừng là Chúa Giêsu đã yêu thương những người yếu đuối, lầm lỡ, tội lỗi. Chúa tỏ lòng thương xót, bênh đỡ những người có tâm trạng khổ đau. Ơn Cứu độ trước tiên cần cho người tội lỗi. Chúa Giêsu nói rõ : "Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Ta đến không phải để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi kẻ tội lỗi"( Mc 2,17 v Mt 9,12-13 v Lc 5,31-32 ). "Con người đến tìm và cứu kẻ bị hư mất"( Lc 19,10 ).
Thông thường người ta cho rằng chết vì chính nghĩa là một cái chết đẹp, và chết vì chính nghĩa cũng là một cái chết lý tưởng, tức là chết để bảo vệ công lý, chết vì những người công chính. Với Đức Giêsu thì khác, xem ra hình như Ngài không chết vì chính nghĩa, Ngài không chết vì những người công chính, Ngài chết vì những người tội lỗi, Ngài chết vì những người yếu thế. Ngài yêu thương những người tội lỗi và chết vì những người bị xã hội bỏ rơi. Ngài chết cho những người tội lỗi để họ được trở nên công chính. Thánh Phaolô xác tín điều này khi Ngài viết trong thư gởi Timôthê : "Tôi tạ ơn Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, Đấng đã ban sức mạnh cho tôi, vì Người đã tín nhiệm mà gọi tôi đến phục vụ Người. Trước kia tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược, nhưng tôi đã được Người thương xót, vì tôi đã hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin. Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta, đã ban cho tôi đầy tràn ân sủng, cùng với đức tin và đức mến của một kẻ được kết hợp với Người. Đây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận : Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi. Sở dĩ tôi được thương xót, là vì Đức Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai sẽ tin vào Người, để được sống muôn đời."( 1Tm 1,12-16 ) - ( Tư tưởng này tôi học từ bài giảng của Đức Cha Gioan Đỗ văn Ngân, GM Phụ tá GP Xuân lộc, trong lễ kỉ niệm Thành lâp Gíao xứ Chánh Tòa Xuân lộc năm 2019 ).

    b.Những ngộ nhận và sứ mệnh truyền giáo :
Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ - Cả hai đều làm cho thế giới chấn động, đều có sức lan tỏa rộng lớn mà Chúa Giêsu đã sử dụng các ông trong sứ mệnh truyền giáo. Ai nói rằng Thánh Phêrô là dân chài, ít học ? Họ đã lầm to. Cũng có người cho rằng Thánh Phêrô hèn nhát vì đã chối Chúa 3 lần. Ai nói như thế là phạm thượng đấy ! Sao không nhớ lần Phêrô rút gươm ra bảo vệ Thầy mình ? Cứ thấy Thánh Phêrô rút gươm chém sứt tai người đầy tớ vị Thượng tế, đòi đi theo Thầy để bảo vệ Thầy, tự mình quả quyết không sợ bị bắt bớ tù đày .v.v...rồi cho rằng Thánh Phêrô là người nóng tính, hung hãn ? - Tất cả là những ngộ nhận. Hãy đọc Tông đồ Công vụ ( 2 chương đầu ) và hai thư của Phêrô, thì ta sẽ thấy Thánh Phêrô là người hiền lành, uyên bác, rất giỏi Thánh Kinh, Người phân tích một sự việc đều có trích dẫn Thánh Kinh. Thánh Phêrô và Anrê là hai anh em ruột, Anrê là anh, Phêrô là em, nhưng Chúa Giêsu đã chọn Phêrô làm Nhóm Trưởng trong nhóm Mười hai. Vị Tông đồ Cả ấy là Giáo Hoàng tiên khởi của Giáo Hội Công giáo, vậy mà ai dám nói Thánh Phêrô ít học, ít trình độ ? Học cao, nhiều trình độ, nhiều bằng cấp...để làm gì ? Học cao, trình độ cao mà không có nhân đức, không biết Chúa thì cũng chã có lợi ích gì cho nhân loại. Các Đấng kế vị Thánh Phêrô ngày nay, dĩ nhiên là phải giống Ngài phần nào đó mà Chúa đã chọn để thay mặt Chúa cai quản Hội Thánh trần gian. Và dĩ nhiên các Ngài được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, sáng soi.

"Viên đá mà người thợ xây loại bỏ đã trở nên tảng đá góc tường"( Cv 4,11 v 1 Pr 2,7 ) - Câu nói này không những đúng với Chúa Giêsu mà còn đúng với cả hai Thánh Tông đồ trụ cột, vì chính Phaolô sau khi trở lại đã đem cả cuộc đời mình đi Rao giảng Tin Mừng về Đức Kitô Phục sinh, như thế là ông đã trở nên tảng đá góc tường, mặc dù Chúa Giêsu không gọi tên ông là Đá.
Xin nhắc lại : Đừng tưởng Thánh Phêrô là người ít học ? - Thánh Phêrô đã thuộc lòng Kinh Thánh và dùng Kinh Thánh dẫn chứng để giải thích cho từng sự việc xảy ra ( x Cv 1,20-22 ); Thánh Phêrô liên hệ để tìm ra được ý Chúa, khuyên bảo mọi người vâng theo và tin vào Đức Kitô Phục sinh ( x Cv 2,14-21 ) - Thánh nhân đã dẫn chứng Thánh Vịnh, nhắc đến Ngôn sứ Giôen, Tổ phụ vua Đavit ( x Cv 2,23-36 ), ông Môisê ( x Cv 3, 22-26 ). Thánh nhân chỉ để lại 2 lá thư, nhưng nội dung đề cập được rất nhiều vấn đề quan trọng. Như thế mà không giỏi, không thông thái sao ? Chúa không chọn để làm Giáo Hoàng tiên khởi sao được ? Có những con người mới thoạt nhìn bề ngoài tưởng chừng như không có trình độ học vấn, nhưng tiềm ẩn bên trong chứa đựng cả một kho tàng hiểu biết, chẳng qua là họ thích sống một cuộc đời chân chất, mộc mạc, bình dị và đơn sơ. Sau biến cố năm 1975 tại Việt Nam có thầy giáo Anh văn phải ngồi vệ đường sửa xe đạp, có Gíao sư Toán học phải chạy xe ôm, có Nhà văn chuyên nghiệp đi bán bún bò cùng vợ... Mới nhìn ta tưởng chừng những con người này không có trình độ. Chúa Giêsu đã chọn Simon, chắc chắn Chúa biết người em này bản lĩnh hơn cả người anh Anrê và lãnh đạo được cộng đoàn Môn đệ đầu tiên, Chúa biết được bên trong của mỗi một con người.
Thánh Phêrô chối Chúa 3 lần trước khi gà gáy nhưng không hèn nhát chút nào, vì trước mắt Ngài là Sứ mệnh. Những lần chối ấy là khôn ngoan, là cần thiết để tránh đi những tai họa, lo cho Giáo Hội trong những ngày đầu chưa vững vàng và lo cho cả tương lai của Giáo Hội về sau, dẫu sau này có đổ máu đào để bảo vệ đức tin. Thà là chối Chúa như vậy, còn hơn thấy Chúa, quen thân, gần gũi với quyền lực mà không làm gì được để giúp đỡ Chúa, mặc dù tự tuyên xưng mình là yêu mến Chúa nhất ( x Jn 18,15-18 ) - ( Xin lỗi, con đã nói đụng chạm đến Thánh Gioan Tông đồ ).
Thánh Phêrô không hèn nhát chút nào vì chính Ngài đã quả quyết cùng đi với Thầy mình, dẫu có bị bắt bớ tù tội.
Hèn nhát làm sao được, chính Thánh Phêrô chấp nhận cái chết tử đạo giống Thầy mình và tình nguyện đóng đinh ngược vì thấy mình không xứng đáng như Thầy mình. Ta biết Chúa ban cho Phêrô quyền năng đến nỗi tên Phù thủy bay trên không bị rơi xuống đất hộc máu ra chết, khi Phêrô ngước mắt nhìn lên.
Yếu đuối làm sao được, khi một con người dám từ bỏ gia đình, vợ con, nhà cửa...để đi theo tiếng gọi của Thầy Chí Thánh, nhất là sau Chúa Phục sinh, ông đã đem hết cuộc đời mình đi rao giảng Tin Mừng, chấp nhận tử đạo ở một vùng đất xa xôi, không phải ngay tại quê nhà.
Ngày nay có nhiều người rất hèn nhát mà dám mở miệng ra nói Thánh Phêrô hèn nhát ! Có những người dám lên tiếng tố giác những bất công của xã hội, những hành động độc ác của những kẻ lợi dụng quyền lực; còn chúng ta thì sợ sệt, im lặng. Chúng ta không đủ can đảm để tuyên xưng một vấn đề trong đạo, đôi khi còn tránh né, còn chối Chúa cả trăm ngàn lần, mà dám nói Thánh Phêrô hèn nhát !

3. Tình yêu và sự giao thoa :
Phải chăng, Đức Giêsu đã liều mạng trong việc tuyển chọn Môn đồ kế tục sự nghiệp của mình ? Thưa không, Chúa hiểu lắm chứ ! Chúa liều mạng sống mình để Cứu chuộc nhân loại, chứ Chúa không dám liều mạng trong việc tuyển chọn các Tông đồ đâu, vì Ngài biết Thánh Thần sẽ làm cho họ trở nên tốt hơn. Tin Mừng thánh Gioan ghi rõ : "Đức Giêsu nhìn ông Simon và nói : Anh là Simon, con ông Giôna, anh sẽ được gọi là Kêpha ( tức là Phêrô )"( Jn 1,42 ) - Đúng là Chúa đã chọn, không những gọi đúng tên khai sanh mà còn đặt tên khác.
 "Bỏ Ngài con biết theo ai ?"- Đó là câu nói của Thánh Phêrô. Thánh Phêrô làm nghề chài lưới lâu năm nên Ngài có nhiều kinh nghiệm ra khơi. "Ra khơi" là hình ảnh quen thuộc, "lưới cá" hay "lưới người" là chuyện khác, Chúa Giêsu hiểu rõ điều ấy.
Người ta cứ nhắc đi nhắc lại việc Phêrô chối Chúa 3 lần, Phaolô bắt bớ Hội Thánh Chúa, rồi trách Chúa Giêsu sao chọn các Môn đồ tệ đến vậy ! Xin thưa, đừng dùng chữ "tệ". Dùng chữ "tệ" là không đúng, vì chắc gì ta đã tốt hơn. Chúa biết tất cả mọi sự, Chúa biết người nào thế nào, ai ra sao. Chúa hiểu rõ hơn chúng ta nhiều, xin đừng luận tội và vội vàng áp đặt lên người khác. Trước khi bị Chúa khuất phục, Phaolô bắt bớ Hội Thánh vì ông quyết chắc về đời sống đức tin, ông tin chỉ một Thiên Chúa duy nhất, không ai có thể tự xưng mình là Thiên Chúa được. Phaolô là người có quốc tịch Rôma, nhưng lại là người có thế giá trong giáo quyền Do thái; vì sự quyết chắc đó Chúa đã chọn ông : Từ một người bắt bớ tín hữu Kitô, trở thành nhà truyền giáo lỗi lạc, nhà thần học xuất chúng. Phaolô quả quyết bằng những câu nói nỗi tiếng :
          ."Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi"( Gal 2,20 ).
          ."Tôi không muốn biết điều gì khác ngoài Đức Kitô chịu đóng đinh."
          ."Đối với tôi, sống là Đức Kitô."
          . Phaolô còn quả quyết về thái độ sống của mình : Không gì có thể tách ông ra khỏi lòng yêu mến Đức Kitô (x Rm 8,35-39 ).
Phaolô trở thành phao vượt biển cho những người muốn vượt qua bể đời đau khổ. Ngài không phải là phao lô, còn xịn hơn cả phao rin nữa. Phaolô trở thành phao cứu sinh cho những ai đang gặp nạn, họ có thể bám vào đó để vượt qua cơn sóng gió hiểm nguy.

Khi Phêrô tuyên xưng : "Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống"(Mt 16,16 v Lc 9,20b), Chúa Giêsu nhận ra ngay Phêrô đã tuyên xưng bản tính siêu việt của Thiên Chúa, ông bổ sung cho luận điểm đức tin của Phaolô đang còn thiếu sót vì lúc ấy Phaolô chưa nhận biết Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật nên Phaolô ra tay bắt đạo, trấn áp các Môn đệ của Đức Giêsu.
Chúa Kitô tuyên bố thiết lập Hội Thánh trên nền tảng mộ Thánh Phêrô, đâu phải chuyện vừa, vì trên mộ thánh ấy chính là "Đá Tảng", và Ngài đã tuyên bố quyền lực tà thần không làm lay chuyển được. Hơn thế nữa, Chúa còn trao chìa khóa Nước Trời cho Phêrô ( x Mt 16,18-19 ).
Thật đúng, quyền năng Chúa đã trao cho Phêrô, điều ấy thấy rõ, sách Tông đồ Công vụ ghi nhận : Thánh Phêrô chữa lành người què từ khi lọt lòng mẹ, Thánh Phêrô chữa lành kẻ đau ốm, Thánh Phêrô chữa người tê bại, Thánh Phêrô làm cho người chết sống lại...( x Cv 5,15-16 v 3,1-10 v 9,32-35 v 9,38-43 ). Chính Cục Đá đáng nể trọng đó cũng cất lên tiếng nói như một lời kêu gọi để lại cho ngàn thế hệ mai sau : "Anh em hãy tiến lại gần Đức Kitô, viên đá sống động bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa chọn lựa và coi là quý giá. Hãy để Thiên Chúa dùng anh em như những viên đá sống động mà xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng... Xưa anh em chưa được hưởng lòng thương xót, nay anh em đã được xót thương" ( x 1Pr 2,4-10 ).
Cuối cùng, nét đẹp Phêrô-Phaolô, hai con người này Chúa làm cho trở nên hoàn hảo, "mỗi người mỗi vẻ" bổ sung nhau để "mười phân vẹn mười". Đó là sự giao thoa tuyệt vời. Phêrô đã giới thiệu các thư của Phaolô, khuyên mọi người đọc và tiếp nhận những giáo huấn ấy : "Anh em hãy biết rằng Chúa chúng ta tỏ lòng kiên nhẫn chính là để anh em được Cứu độ, như ông Phaolô, người anh em thân mến của chúng ta, đã viết cho anh em, theo ơn khôn ngoan Thiên Chúa đã ban cho ông. Ông cũng nói như vậy trong các thư của ông, khi bàn đến các vấn đề"( 2 Pr 3,15-16 ). Phaolô đã viết quá nhiều nên Phêrô không cần phải viết gì thêm nữa, ông chỉ để lại hai bức thư mà thôi. Phêrô cần thể hiện những hành động sống thiết thực, làm chứng nhân như Đức Kitô vậy.

4. Kết và lời nguyện ước :
Tóm lại, cả hai vị Thánh Tông đồ đáng yêu của chúng ta cùng chọn một con đường, một cùng đích để tiến bước : "Đến với Đức Kitô, vì Đức Kitô và cho Đức Kitô."
Xin cho mỗi người chúng ta đều biết vâng phục quyền bính của Gíao Hội. Chúng ta dù không thông thái, can đảm như các Ngài, nhưng ai cũng có một sứ mệnh như hai vị Tông đồ mà chúng ta kính nhớ, là sẵn sàng sống và chết cho Đức Kitô, vì Đức Kitô, với Đức Kitô. Ước gì chúng ta biết noi gương các Ngài, noi gương theo Thầy Chí thánh Giêsu hiền lành và dễ thương, luôn nhìn thấy những điều tốt đẹp nơi con người và luôn hy vọng vào những người lầm lạc trong cuộc đời này, quảng đại bỏ qua những khuyết điểm để dùng tình yêu mà hoán cải họ.

JB.SĨ TRỌNG.
( Viết sau ngày nhận thư mời dự lễ của Họ đạo Phêrô ).

P/s : Có người khi mới đọc tựa của bài viết này, họ đã trợn mắt nói :
          _ Uả ! Ông muốn giỡn hả ông ?
Tôi trả lời :
          _ Tôi đâu có giỡn. Anh cứ thử đọc nghiêm túc đi.

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2020

Câu chuyện 16

"CHÁY NHÀ SẼ RA MẶT CHUỘT"

Có một con chuột bị mèo đuổi, vô tình chui vào trong tượng Phật trên chùa và làm tổ ở đó...
Từ ngày chui vào trong tượng Phật, cuộc sống của chuột ta vô cùng no đủ. Nó luôn được ăn thỏa thích những đồ lễ vật mà người dân mang đến cúng bái. Thêm nữa, người nào đến trước tượng Phật của toàn phủ phục, nên con chuột tự thấy mình cũng oai lắm. Nó thoải mái ăn ở, thậm chí còn tự do phóng uế lung tung…
Mỗi khi người dân đến thắp hương khấu đầu, con chuột kia nhìn khói hương nghi ngút từ từ bay lên, cười thầm: “Đúng là những kẻ ngu ngốc, chẳng ai bắt mà cũng quỳ cũng lạy! Bây giờ ta mới biết mình cũng oai phết, đến loài người còn bái lạy ta, mà bấy lâu nay sao ta cứ phải sợ mèo nhỉ!”.
Lâu ngày, sống cùng tượng Phật ở trên cao, thấy người nào đến thắp hương cũng chắp tay thành kính và quỳ lạy như thế, chuột cũng thấy mình cao quý và tôn kính như… Phật.
Bỗng một hôm, có người cắm bó hương to, sơ ý để bùng cháy... Nóng và khói quá, con chuột bò vội ra ngoài, thì bị con mèo đói vồ được. Chuột ta bèn vênh váo kêu lên:
- “Này mèo! Nhà ngươi không thể ăn thịt ta được, hãy quỳ xuống thành kính bái lạy đi, rồi mang thức ăn lại đây… Ta là Phật đấy!”
Mèo cười to:
- “Những người quỳ lạy mày là vì vị trí mà mày đang chiếm đoạt, chứ không phải vì bản thân mày cao quý, quyền cao chức trọng gì đâu. Giờ thì mày tới số rồi, con chuột ngu ngốc!
Trong cuộc sống, không ít những kẻ nhờ thủ đoạn, hoặc do may mắn, bỗng ngồi vào một ví trí nào đó, thấy những người xung quanh đều xum xoe nịnh nọt, bổng lộc tự đến đầy nhà… thì tưởng mình là tài năng, hô mưa gọi gió , một tay đòi che cả trời , ngộ nhận là mình cao quý và oai vệ lắm. Khi không còn chỗ dựa , mới biết và hiểu được , mình cũng chẳng là gì!
Họ giống như con chuột bỗng chui vào tượng Phật, ngộ nhận về mình; không biết chỉ là nhờ vị trí cái ghế ngồi mà họ đang may mắn tạm thời nắm giữ. Họ càng không lường được rằng, rất có thể tới một ngày... “Cháy nhà sẽ ra mặt chuột"!
St.

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2020

Giao hòa tình Chúa
















Có   lẽ   ta   nên   viết   về   Ngài,
Là  điều  cần  thiết  để  Ngày  Mai
Cuộc đời nếm trải bao phiền muộn
Nhưng thấy tình Ngài chẳng nhạt phai.

Viết  Ngài  mang  lại  lợi  ích  hơn,
Vì  cả  nhân  gian  cũng  được  ơn
Riêng  bản  thân  ta,  ta  cũng  được
Tình  Ngài   khúc  hát  mãi  véo  von.

Tim  ta  tình  Chúa  gọi  ngày  đêm,
Như sóng triều dâng vỗ mạn thuyền
Đón  ánh  trăng  lên  đùa  với  biển,
Nghe Lời  mở ngỏ  của  Ngài khuyên.

Những phút dừng chân bên quán trọ,
Nghĩ mình may mắn có Ngài thương
Ngựa  phi  sắp  đến  hồi  buông  vó,
Hạt  cát   lang  thang   bỏ   vệ  đường.

Đừng ngủ, đừng quên, mà hãy nhớ
Vì   Ngài  canh  cánh  cạnh  bên  ta
Nhè  nhẹ,  dịu  dàng  như  hơi  thở
Con  tim   luôn   vỗ  nhịp   giao  hòa.

JB.Sĩ Trọng.